Cho đi có trách nhiệm: nhu cầu, lựa chọn và giới hạn
Phân biệt ý định giúp, cách giúp và kết quả; dùng các tình huống đầy đủ để lập luận về sự tự nguyện, nhu cầu, phạm vi đồng ý và khả năng hỗ trợ.
NGỮ VĂN 8 · HỌC TỪ KHÁI NIỆM
Cho đi có trách nhiệm: nhu cầu, lựa chọn và giới hạn
Một việc giúp đỡ cần được nhìn từ cả hai phía. Học cách lựa chọn dẫn chứng, kiểm tra điều suy ra và đề xuất cách hỗ trợ có thể điều chỉnh.
1. Cho một thứ chưa chắc đã giúp đúng việc
Một cuốn sách được trao đi là một sự vật đã đổi người giữ. Nó có giúp việc đọc hay không còn tùy nhu cầu, tình trạng sách và cách người nhận sử dụng. Một lời khuyên có ý tốt cũng có thể chưa đúng lúc. Vì vậy, khi nghị luận về cho đi, cần phân biệt ý định giúp , cách giúp và kết quả giúp .
Sự phân biệt ấy không làm việc tử tế trở nên lạnh lùng. Nó giúp người viết quan tâm tới cả người trao và người nhận. Ta không thể chỉ hỏi người cho đã bỏ ra bao nhiêu rồi kết luận mọi người đều được lợi; cũng không nên chỉ vì chưa thấy kết quả mà phủ nhận mọi nỗ lực.
Nguồn dùng trong bài. Tài liệu LUKATO được cung cấp là một dàn hướng dẫn nghị luận; nó nhắc tên ca khúc Để gió cuốn đi nhưng không đưa lời ca. Bài này không tự thêm hoặc gán câu hát. Ba câu sau trích đúng lời hướng dẫn, không phải lời bài hát hay danh ngôn của một tác giả khác.
Cho đi là tự nguyện trao tặng giá trị vật chất hoặc tinh thần cho người khác mà không đặt việc nhận lại làm điều kiện.
Tôn trọng người nhận; không biến việc giúp đỡ thành phô trương hoặc áp đặt.
Cho đi không đồng nghĩa nuông chiều sai trái, tiếp tay cho sự ỷ lại hoặc tự làm tổn hại bản thân.
Thử trước khi mở lời giải. Một bạn nói: “Đã cho thật nhiều thì chắc chắn đã giúp thật tốt.” Hãy tìm một điều còn thiếu để kiểm tra nhận xét ấy.
Gợi ý để tự suy nghĩ
Hãy hỏi người nhận cần gì hoặc thứ được cho có dùng được không. Số lượng là một dữ kiện, chưa phải toàn bộ tiêu chí.
Mở phần giải thích và tự đối chiếu
Nhận xét thiếu nhu cầu và kết quả sử dụng. Chẳng hạn, trao nhiều tài liệu mà người nhận không cần hoặc không thể đọc chưa tự chứng minh hiệu quả. Ví dụ giả định này kiểm tra giới hạn của luận điểm, không cho phép kết luận ai tặng nhiều cũng phô trương. Cần xem một trường hợp cụ thể.
2. Đọc trọn tình huống: một cuốn truyện cho thư viện lớp
Văn bản thực hành mới do LUKATO biên soạn, hoàn toàn hư cấu. Đây là toàn bộ câu chuyện dùng cho các nhận xét sau.
Thư viện lớp của Nhi có một số sách do các bạn tự nguyện mang tới. Cô đề nghị nhóm phụ trách hỏi người dùng cần sách gì trước khi nhận thêm. Mỗi bạn có thể tham gia bằng sách, bằng thời gian xếp sách hoặc không tham gia đợt này; nhóm không công khai so sánh mức đóng góp.
Nhi mang một cuốn truyện còn đọc được nhưng có vài trang bong. Bạn nói rõ tình trạng sách và hỏi nhóm có cần không. Quân cho biết các bạn đang thiếu một cuốn truyện ấy, rồi hỏi Nhi có đồng ý để nhóm dán lại các trang trước khi cho mượn không. Nhi đồng ý.
Hà mang tới một tập đề mà nhóm chưa có nhu cầu. Khi nhóm nói tủ hiện không còn chỗ để tập đề, Hà đề nghị giữ lại ở nhà và sẽ mang khi có người cần. Không ai được yêu cầu phải nhận tập đề để chứng tỏ biết ơn.
Trong giờ ra chơi, Quân cùng Nhi dán lại những trang bong. Hai bạn kiểm tra thấy các trang đã gắn vào gáy; nhóm vẫn cần theo dõi xem chúng có bền khi sử dụng không. Chuyện chưa kể một bạn đọc nào đã mượn cuốn truyện.
Một bạn muốn chụp ảnh Nhi cầm cuốn sách để đăng lên trang lớp. Nhi nói mình đồng ý cho sách, nhưng không muốn đăng ảnh. Nhóm cất máy và chỉ ghi tình trạng sách vào sổ mượn. Sổ không có nhận xét về lòng tốt của từng người.
Cuối buổi, Quân nhờ Nhi ở lại sắp toàn bộ tủ. Nhi chỉ có thể ở thêm một lúc trước giờ người nhà đón. Bạn nhận xếp một ngăn và nói rõ phần còn lại cần người khác phụ. Nhi đã xếp xong ngăn ấy; tủ vẫn còn những ngăn chưa được sắp.
Nhóm ghi hai việc cần làm sau buổi này: hỏi người mượn về tình trạng các trang đã dán và tìm thời gian khác để sắp tiếp tủ. Những việc đó mới là dự định, chưa phải kết quả của đợt tặng sách.
Thử trước khi mở lời giải. Trước khi đọc lời giải, ghi riêng một việc đã hoàn thành, một kết quả còn chưa biết và một đề nghị đã được từ chối hoặc điều chỉnh.
Gợi ý để tự suy nghĩ
Xếp một ngăn không phải xếp cả tủ. Dán trang không phải chứng minh sách đã bền qua sử dụng. Hãy xem việc đăng ảnh.
Mở phần giải thích và tự đối chiếu
Nhi đã xếp xong một ngăn; các ngăn khác còn chưa được sắp. Các trang đã được dán vào gáy, nhưng độ bền khi mượn đọc chưa có dữ kiện. Nhi không đồng ý đăng ảnh và nhóm đã cất máy. Hà điều chỉnh bằng cách giữ tập đề ở nhà khi nhóm nói chưa có nhu cầu và chỗ chứa. Những khác biệt này giúp ta đánh giá từng việc mà không kể thêm một kết thúc thành công.
3. Tự nguyện: không đặt phần thưởng làm điều kiện
Trong câu nguồn đầu tiên, việc nhận lại không được đặt làm điều kiện của hành động cho. Điều đó không có nghĩa người cho phải không bao giờ vui, không được nhận lời cảm ơn hoặc không được mong công sức được tôn trọng. Một cảm xúc xuất hiện sau việc giúp khác với một yêu cầu trao đổi đã đặt ra để buộc người nhận.
Ta cũng không nhìn thấy trọn vẹn động cơ của người khác chỉ qua một hành động. Nếu không có lời nói hoặc dữ kiện phù hợp, đừng tự kết luận Nhi tặng sách chỉ để được khen hoặc hoàn toàn không có bất cứ mong muốn nào. Điều chuyện cho biết rõ là Nhi công khai tình trạng sách, hỏi nhu cầu và đồng ý cách sửa trước khi cho mượn.
Cho đi có thể tồn tại cùng những quan hệ có qua có lại, nhưng cần gọi đúng điều đang làm. Cùng phân chia việc nhóm là sự hợp tác có trách nhiệm; một cuộc trao đổi vật dụng có thỏa thuận không tự trở thành ích kỉ. Nếu đang hứa một việc như quà tặng tự nguyện, ta không nên âm thầm đổi nó thành món nợ buộc người nhận làm theo.
Thử trước khi mở lời giải. Phân biệt hai lời giả định: A “Mình tặng cậu cuốn sách này; cậu không cần đổi gì.” B “Mình đổi cuốn này lấy cuốn của cậu nếu cậu đồng ý.” Có cần gọi B là người xấu để bảo vệ giá trị cho đi không?
Gợi ý để tự suy nghĩ
Nhận ra loại quan hệ được đề xuất. Sự rõ ràng và đồng thuận quan trọng hơn việc ép mọi hành động mang cùng một tên.
Mở phần giải thích và tự đối chiếu
Không. A là đề nghị tặng, B là đề nghị trao đổi có điều kiện được nói rõ. B chưa phải cho đi theo định nghĩa của bài, nhưng điều đó không tự chứng minh người đề nghị ích kỉ. Cần xem sự tự nguyện và cách thực hiện. Một lập luận tốt giữ ranh giới khái niệm mà không biến khác biệt khái niệm thành phán xét toàn bộ con người.
4. Người nhận có tiếng nói trong việc giúp
Hà chưa trao tập đề cho tủ lớp vì nhóm nói chưa có nhu cầu và hết chỗ. Việc không nhận không phải tự động là vô ơn. Nó cung cấp thông tin để điều chỉnh cách hỗ trợ. Một món đồ khiến người nhận phải giữ, bảo quản hoặc tìm chỗ cất còn tạo thêm phần việc; người cho cần tính tới điều ấy thay vì cho rằng nhận luôn dễ hơn cho.
Ở cuốn truyện của Nhi, Quân nói nhu cầu cụ thể và hỏi cách sửa. Ở việc chụp ảnh, Nhi nói rõ phạm vi đồng ý. Đồng ý cho sách không tự bao gồm đồng ý dùng ảnh của mình. Nếu muốn tôn trọng lựa chọn, phải cho phép lời từ chối có hiệu lực; không thể vừa hỏi ý kiến vừa chỉ chấp nhận một câu trả lời.
Sự kín đáo hay công khai tự nó chưa đủ chứng minh động cơ tốt xấu. Một hoạt động chung có thể cần ghi nhận phần việc để quản lí minh bạch. Điểm cần xét là thông tin nào thật sự cần, người liên quan có được lựa chọn phù hợp không và việc công khai có biến họ thành đối tượng bị so sánh hoặc bị ép hay không.
Dùng sơ đồ để kiểm tra cả lời đề nghị lẫn kết quả. Nếu nhu cầu chưa rõ, quay lại hỏi; nếu khả năng thay đổi, cần điều chỉnh phạm vi.
Thử trước khi mở lời giải. Một bạn viết: “Nhi đã cho sách nên nhóm có quyền đăng ảnh Nhi để khuyến khích người khác.” Nhận xét đã nối hai việc bằng căn cứ nào?
Gợi ý để tự suy nghĩ
Tìm lời đồng ý thực sự của Nhi. Mục đích khuyến khích người khác có thay cho lựa chọn của Nhi được không?
Mở phần giải thích và tự đối chiếu
Nhận xét chưa có căn cứ cho việc đăng ảnh: Nhi đã nói không muốn. Việc cho sách và việc dùng ảnh là hai phạm vi khác nhau. Mục đích khuyến khích không tự thay thế sự lựa chọn đã nêu. Trong chuyện, nhóm đã cất máy; không được kể rằng ảnh đã đăng hoặc phản hồi của lớp sau khi xem ảnh.
5. Giới hạn không xóa ý nghĩa của sự sẻ chia
Nhi nhận một ngăn trong thời gian còn lại. Việc nói rõ khả năng giúp nhóm biết phần nào cần người khác phụ. Nếu cứ hứa làm hết rồi không thể thực hiện, người khác khó sắp xếp công việc. Một giới hạn được thông báo không tự là sự thiếu quan tâm; cần xét giới hạn ấy và phần trách nhiệm thực sự đã nhận.
Đồng thời, không dùng chữ giới hạn để bỏ mặc một lời hứa mà không báo. Nếu khả năng thay đổi, người đã nhận việc nên nói sớm khi có thể và cùng tìm phương án phù hợp. Hai điều có thể cùng đúng: một người có trách nhiệm với lời mình nhận, và người ấy không phải làm mọi việc vượt khả năng để chứng minh lòng tốt.
Trong những việc liên quan tới sức khỏe, nguy hiểm hoặc vấn đề vượt khả năng của học sinh, cho đi có trách nhiệm có thể là tìm người lớn đáng tin hỗ trợ. Không cần tự xử lí mọi chuyện, cho tiền hoặc thông tin riêng khi bị ép, hoặc hứa giữ kín một điều khiến ai đó không an toàn. Cần hỗ trợ cho bản thân cũng không khiến em kém giá trị hơn người đang giúp.
Thử trước khi mở lời giải. So sánh A “Nhi chỉ làm một ngăn nên không đáng ghi nhận” với B “Nhi hoàn thành phần đã nhận, còn nhóm cần bố trí phần còn lại.” Câu nào phân biệt đúng phạm vi trách nhiệm?
Gợi ý để tự suy nghĩ
Đọc lại lời Nhi đã nhận, thời gian còn có và việc đã làm. Đừng đổi một phần tự nguyện thành nghĩa vụ làm cả tủ.
Mở phần giải thích và tự đối chiếu
B đúng phạm vi. Chuyện nêu Nhi nhận một ngăn và đã xếp xong ngăn ấy. A bỏ qua phần đã hoàn thành và tự đặt tiêu chuẩn phải làm toàn bộ. B cũng không coi cả tủ đã xong: việc chung còn lại cần được sắp xếp, không bị xóa bởi lời khen một cá nhân.
6. Hiệu quả và nguyên nhân cần bằng chứng riêng
Chuyện cho thấy có một cuốn sách được nhận theo nhu cầu, các trang được dán lại và một ngăn đã xếp xong. Đó là các kết quả trực tiếp trong phạm vi được kể. Chuyện chưa cho biết lượt mượn, độ bền sau nhiều lần đọc hoặc niềm vui của tất cả người tham gia. Viết sự sẻ chia luôn khiến mọi người hạnh phúc sẽ thêm một kết quả mà nguồn không có.
Cũng cần phân biệt điều mong muốn với cơ chế dự kiến . Muốn việc cho sách hữu ích là một mục đích. Hỏi nhu cầu trước có thể giúp nhóm chọn sách phù hợp hơn là một lí do để thử cách làm. Muốn biết cách làm có hiệu quả trong lần này, cần xem sách được sử dụng và người dùng phản hồi ra sao. Phương án hợp lí vẫn cần được kiểm tra.
Chỉ từ một câu chuyện hư cấu không thể nói giới trẻ hiện nay cho đi ít hơn trước, hoặc người giúp luôn thanh thản hơn người khác. Các nhận định về mức độ phổ biến, sự thay đổi theo thời gian hay trạng thái tâm lí cần nguồn phù hợp. Trong bài này, em có thể lập luận sâu bằng tình huống cụ thể và câu hỏi điều kiện, không cần dựng số liệu hoặc một người nổi tiếng để làm chỗ dựa.
Thử trước khi mở lời giải. Đánh giá đề xuất “Tháng sau hãy hỏi người mượn xem trang sách có còn chắc không”. Đề xuất này kiểm tra điều gì và không kiểm tra được điều gì?
Gợi ý để tự suy nghĩ
Tách một đặc điểm sử dụng cụ thể khỏi mọi tác dụng mà người viết muốn gán cho hoạt động tặng sách.
Mở phần giải thích và tự đối chiếu
Nó hướng tới độ bền của các trang đã sửa qua việc sử dụng, nên gắn với điều chưa biết trong chuyện. Nó chưa đủ đo tất cả lợi ích của thư viện, động cơ người tặng hoặc mức thay đổi của cả cộng đồng. Cần ghi đây là việc dự định; chưa có câu trả lời thì chưa được kết luận trang đã bền.
7. Chuyển giao: không phải cứ làm nhiều hơn là giúp tốt hơn
Tình huống A · giúp học hay làm thay?
Ngữ liệu thực hành mới do LUKATO biên soạn; toàn bộ tình huống được in dưới đây.
Trong một câu chuyện hư cấu, Phương nói chưa hiểu đề bài và muốn bạn giải thích một từ. Bạn của Phương đề nghị làm hộ toàn bộ bài để tiết kiệm thời gian. Phương trả lời mình muốn tự làm sau khi hiểu yêu cầu.
Hai bạn mới trao đổi đề nghị. Chưa có bài nào được làm thay hay lời giải thích nào được thực hiện. Em cần chọn một cách hỗ trợ tôn trọng mục đích Phương đã nói, không đoán kết quả học tập.
Tình huống B · một lời mời lắng nghe
Ngữ liệu thực hành mới do LUKATO biên soạn; toàn bộ tình huống được in dưới đây.
Trong một câu chuyện hư cấu khác, Tâm đang buồn nhưng nói chưa muốn kể. Bạn cùng bàn hỏi Tâm có muốn ngồi yên cùng mình một lúc không. Tâm đồng ý ngồi cùng và chưa kể chuyện.