Chuyên Anh: hệ thống nghe hiểu, loại trừ nhiễu tranh minh hoạ, bẫy Đúng/Sai và tốc ký điền phiếu
Đặc huấn hệ thống LUKATO: nghe để loại, giữ thông tin cuối cùng được xác nhận; Lưới Ba Lớp cho tranh, Bộ Đếm Ngược Phủ Định và Tai Nghe Sửa Lời cho Đúng/Sai…
LUKATO - CHUYÊN ANH
Hệ thống nghe hiểu: loại trừ nhiễu tranh minh hoạ, bẫy Đúng/Sai và ký hiệu tốc ký điền phiếu
Mục tiêu: trước khi băng chạy, em biết mình phải nghe LOẠI thông tin gì; trong khi nghe, em giữ lại đúng thông tin cuối cùng được người nói xác nhận và gạch bỏ mọi thông tin bị sửa, bị phủ định hay chỉ là dự định; sau khi nghe, em chốt đáp án bằng lý lẽ, đúng loại từ, đúng giới hạn số từ.
- Chuyên Anh
- Đặc huấn hệ thống
- Chọn tranh
- Đúng/Sai nghe
- Điền phiếu
- Sáu công cụ LUKATO
Bản đồ tư duy
Phần nghe của bài chuyên Anh thường có ba cửa: chọn tranh (ba bức tranh gần giống nhau), Đúng/Sai (nghe rồi xét từng câu nhận định) và điền phiếu (điền thông tin vào một mẫu đơn, giới hạn số từ). Ba cửa trông khác nhau, nhưng người ra câu hỏi dùng chung một bộ bẫy: họ cho em nghe nhiều thông tin cùng loại, rồi chỉ một thông tin được người nói giữ lại đến cuối.
LUKATO gom cả đơn vị vào Hệ Nghe Ba Cửa . Luật trung tâm có hai vế: (1) nghe để loại , không nghe để chọn: mỗi thông tin xuất hiện đều phải được xếp vào ô “giữ” hoặc “loại”; (2) đáp án là thông tin cuối cùng được xác nhận , không phải thông tin xuất hiện đầu tiên hay được nhắc nhiều nhất.
Hình 1. Hệ Nghe Ba Cửa: luật trung tâm, ba cửa, sáu công cụ và bốn họ bẫy dùng chung.
Bài này học qua bản ghi lời (transcript) tự soạn của LUKATO . Vì không có băng, em luyện theo quy trình ba lượt: lượt 1 đọc câu hỏi và che bản ghi lời; lượt 2 nhờ bạn hoặc người thân đọc to bản ghi lời với tốc độ nói tự nhiên (không ngắt nghỉ để chờ em), em ghi tốc ký; lượt 3 mở bản ghi lời, đối chiếu từng quyết định giữ và loại.
Vì sao đơn vị này quyết định điểm ở mức chuyên
Ở mức cơ bản, người nói chỉ nhắc một con số, một ngày, một bức tranh. Ở mức chuyên, mỗi ô trống có hai đến ba “ứng viên”: giờ dự kiến và giờ thật, giá cũ và giá mới, lối vào chính và cổng phụ. Học sinh nghe tốt vẫn mất điểm vì ghi ứng viên đầu tiên. Một học sinh có hệ thống không cần nghe giỏi hơn; em ấy chỉ cần biết tín hiệu nào báo rằng thông tin vừa nghe sắp bị thay thế .
Học xong, em làm được
- Lập Lưới Ba Lớp Chi Tiết cho ba bức tranh trong 20 giây và biết lớp nào sẽ quyết định đáp án.
- Nhận ra phủ định bị nói lướt ( can't , doesn't , hardly ) và năm cấu trúc trông như phủ định nhưng không phủ định việc xảy ra.
- Bắt mọi tín hiệu sửa lời ( sorry ; no, actually ; I tell a lie ; wait, no ) và giữ giá trị sau cùng.
- Gắn nhãn loại từ cho ô trống trước khi nghe, từ chối ghi một từ sai loại dù nghe rõ.
- Ghi tốc ký số, giờ, ngày, tên đánh vần, rồi chép sạch đúng luật tối đa hai từ và/hoặc một con số.
Gia sư nhắc Đừng luyện nghe bằng cách đọc bản ghi lời trước. Nếu đã đọc trước, tai em không còn làm việc: mắt đã làm thay. Hãy luôn giữ đúng thứ tự: câu hỏi, nghe, rồi mới mở bản ghi lời.
Nền tảng khái niệm
Bảy khái niệm dưới đây là “từ vựng chung” của cả bài. Mỗi khái niệm có định nghĩa chặt, một cặp ví dụ đối lập và một hiểu lầm phổ biến.
Khái niệm 1. Nhiễu nhắc tên
Định nghĩa. Nhiễu nhắc tên là một thông tin được nói ra trong bài nghe nhưng không phải đáp án, vì người nói nhắc nó để bác bỏ, so sánh, kể lại quá khứ hoặc nêu kế hoạch chưa thành. Phương án nhiễu tốt nhất luôn là phương án có từ em vừa nghe thấy.
Ví dụ đối lập. Everyone expects Nam to have a dog, but his pet is a tortoise. Chó được nhắc, nhưng bị bác bỏ bằng but . So với: Nam has a dog and a tortoise. Cả hai đều được xác nhận.
Hiểu lầm phổ biến. “Nghe thấy từ nào thì chọn tranh có vật đó.” Sai: trong bài nghe chuyên, ba tranh thường chứa đủ mọi vật được nhắc; từ được nhắc chỉ cho em biết tranh nào cần kiểm , không cho biết tranh nào đúng.
Khái niệm 2. Ba lớp chi tiết của một bức tranh
Định nghĩa. Mỗi bức tranh được đọc theo ba lớp: Lớp 1 đối tượng chính (ai, cái gì); Lớp 2 hành động hoặc trạng thái (đang làm gì, đóng hay mở, để ở đâu); Lớp 3 chi tiết phụ (giờ trên đồng hồ, số lượng, trang phục, hoa văn, vị trí nhỏ). Hai tranh khác nhau ở lớp càng sâu thì càng khó phân biệt.
Hình 2. Lưới ba lớp: tranh nhiễu cao cấp giống tranh đúng ở lớp 1 và 2, chỉ khác ở lớp 3.
Ví dụ đối lập. Hỏi “thùng hàng nào”, ba tranh đều có một thùng trước cửa (lớp 1 giống), đều đóng kín trên thảm (lớp 2 giống); chỉ đồng hồ và số thùng khác nhau (lớp 3). Ngược lại, câu hỏi dễ sẽ có tranh chó, tranh mèo, tranh rùa: khác ngay lớp 1.
Hiểu lầm phổ biến. “Nghe xong đối tượng chính là chọn được.” Với tranh nhiễu cao cấp, sau lớp 1 em vẫn còn ba tranh; phải nghe đến hết lượt nói, vì chi tiết lớp 3 thường nằm ở câu cuối.
Khái niệm 3. Thông tin thoáng qua và phủ định nói lướt
Định nghĩa. Thông tin thoáng qua là thông tin quyết định đáp án nhưng được nói nhẹ, nhanh, không nhấn. Loại nguy hiểm nhất là phủ định nói lướt : đuôi n't dính vào trợ động từ, âm /t/ cuối gần như không bật ra. Trong câu khẳng định, can thường đọc dạng yếu /kən/ ; còn can't không bao giờ bị làm yếu: nó mang trọng âm và giữ nguyên âm đầy ( /kɑːnt/ theo giọng Anh, /kænt/ theo giọng Mỹ).
Hình 3. Dạng yếu và dạng mạnh: nghe trọng âm và nguyên âm, đừng chờ âm /t/ hay âm cuối.
Ví dụ đối lập. I can come on Friday. (can nhỏ, lướt; trọng âm rơi vào come và Friday ) so với I can't come on Friday. ( can't to, rõ). Tương tự với số: fifteen có trọng âm ở âm tiết hai và kết thúc bằng âm /n/ kéo dài; fifty có trọng âm ở âm tiết một, đuôi ngắn, không có /n/.
Hiểu lầm phổ biến. “Phủ định thì phải nghe thấy âm /t/.” Sai: âm /t/ cuối của can't , don't , wasn't thường không bật hơi trong lời nói nhanh. Dấu hiệu tin cậy là trọng âm và độ dài nguyên âm . Lưu ý thêm: khi fifteen đứng ngay trước một danh từ ( fifteen dollars ), trọng âm có thể dịch lên âm tiết đầu theo nhịp câu, nên phải dựa vào âm /n/ cuối chứ không chỉ dựa vào trọng âm.
Khái niệm 4. Sửa lời giữa câu
Định nghĩa. Sửa lời là khi người nói nêu một giá trị rồi tự thay bằng giá trị khác. Tín hiệu sửa lời thường gặp: sorry ; no, actually ; I mean ; or rather ; I tell a lie (thành ngữ Anh dùng khi tự đính chính); wait, no ; let me check . Giá trị đứng sau tín hiệu thay thế giá trị đứng trước.
Ví dụ đối lập. The trip takes fifty minutes. Sorry, fifteen. Đáp án 15. So với: The trip takes fifty minutes, or fifteen by taxi. Không có sửa lời; hai giá trị cùng đúng cho hai phương tiện, và câu hỏi hỏi phương tiện nào thì lấy giá trị đó.
Hiểu lầm phổ biến. “Cứ có hai con số thì lấy con số sau.” Sai: or thứ hai ở ví dụ trên nêu một lựa chọn khác, không phải sửa lời. Chỉ khi có tín hiệu sửa lời và hai giá trị nói về cùng một trường thông tin thì giá trị sau mới thay giá trị trước.
Khái niệm 5. Dự định và thực tế
Định nghĩa. Nhiều bẫy dựa trên khoảng cách giữa điều được dự kiến và điều thật sự xảy ra . Tín hiệu dự định: was supposed to , said it would , was expecting , planned to , used to (thói quen cũ). Tín hiệu thực tế: in the end , actually , turned up , it turned out , now , from next week .
Ví dụ đối lập. The bus was supposed to leave at six, but it left at half past. Thực tế: 6.30. So với: The bus leaves at six, and the boat leaves at half past. Hai lịch trình khác nhau, cả hai đều thật.
Hiểu lầm phổ biến. “Thì quá khứ là thực tế, thì tương lai là dự định.” Không hẳn: said it would arrive là quá khứ nhưng chỉ dự định; From next week we'll meet on Thursdays là tương lai nhưng là thông tin mới có hiệu lực. Phải xét chức năng của câu, không chỉ nhìn thì.
Khái niệm 6. Loại từ của ô trống
Định nghĩa. Mỗi ô trống trên phiếu nằm trong một khung ngữ pháp in sẵn; khung đó quyết định loại từ phải điền trước khi quyết định nội dung . an old ____ cần danh từ đếm được số ít; a pair of ____ cần danh từ số nhiều; the ____ gate cần một từ bổ nghĩa cho gate ; ____ dollars cần một con số.
Ví dụ đối lập. Phiếu in Please bring: an old ____ . Người nói: We do provide aprons, but bring an old shirt. Cả aprons và shirt đều là đồ mặc khi làm gốm, nhưng an old aprons sai ngữ pháp (số nhiều sau an ), còn an old shirt khớp. Loại từ loại được nhiễu trước cả khi xét nghĩa.
Hiểu lầm phổ biến. “Loại từ chỉ để kiểm lại sau khi nghe.” Sai: nhãn loại từ phải có trước khi nghe, vì nó cho tai em biết phải bỏ qua cái gì. Nghe thấy một từ đúng chủ đề nhưng sai loại từ là dấu hiệu em đang nghe nhầm đoạn.
Khái niệm 7. Giới hạn số từ và tốc ký
Định nghĩa. Với yêu cầu “ Write NO MORE THAN TWO WORDS AND/OR A NUMBER for each answer ”, mỗi ô được tối đa hai từ và/hoặc một con số (KHÔNG QUÁ HAI TỪ VÀ/HOẶC MỘT CON SỐ). Mạo từ a , an , the cũng là từ. Vượt giới hạn thì mất điểm dù nội dung đúng. Tốc ký là cách ghi nháp nhanh bằng ký hiệu trong lúc nghe, rồi chép sạch khi băng dừng.
Ví dụ đối lập. the side gate (ba từ, vượt) so với side gate (hai từ, hợp lệ) hoặc chỉ side nếu phiếu đã in sẵn the ____ gate . Với số: viết 25 bằng chữ số an toàn hơn viết chữ, vừa nhanh vừa không phải lo chính tả.
Hiểu lầm phổ biến. “Ghi càng đầy đủ càng tốt.” Trong dạng điền phiếu, ghi thừa là ghi sai. Điền xong, đọc lại cả dòng phiếu cùng đáp án: câu phải liền mạch, không lặp từ đã in sẵn.
Gia sư hỏi Trong bảy khái niệm trên, khái niệm nào xuất hiện ở cả ba cửa? Gợi ý: nhiễu nhắc tên, sửa lời và dự định/thực tế đi xuyên qua cả tranh, Đúng/Sai lẫn phiếu. Vì thế bài có một luật trung tâm chung.
Bộ công cụ phán đoán
Sáu công cụ, chia theo cửa: Công cụ 1 cho tranh; Công cụ 2 và 3 cho Đúng/Sai (và dùng lại ở mọi cửa); Công cụ 4, 5, 6 cho phiếu. Công cụ nào cũng có điều kiện thất bại: biết lúc nào công cụ không dùng được cũng quan trọng như biết dùng nó.
Công cụ 1. Lưới Ba Lớp Chi Tiết
Khi nào dùng. Câu hỏi chọn một trong ba tranh gần giống nhau.
Các bước.
- Trong thời gian chờ, so ba tranh theo từng lớp: lớp 1 (đối tượng), lớp 2 (hành động, trạng thái), lớp 3 (giờ, số lượng, trang phục, vị trí).
- Gạch chân lớp có khác biệt . Lớp nào ba tranh giống nhau thì bỏ qua khi nghe.
- Dự đoán từ khoá tiếng Anh cho điểm khác biệt (vd đồng hồ khác nhau: chờ at ten , a quarter to eleven ; số thùng khác nhau: chờ one , two , both ).
- Nghe đến hết lượt nói; mỗi lần nghe một giá trị, đánh dấu “giữ” hoặc “loại” theo Công cụ 3.
- Chọn tranh khớp đủ các lớp có khác biệt, không chỉ khớp lớp đầu tiên.
Ví dụ mini. Hỏi: Which one is Lan's sister? Ba tranh: (A) áo khoác đỏ, cầm ô; (B) áo khoác đỏ, không cầm ô; (C) áo khoác xanh, cầm ô. Lớp 1 giống (một cô gái); lớp 2 khác ở việc cầm ô; lớp 3 khác ở màu áo. Người nói: My sister's the one in the red coat. She usually carries an umbrella, but she left it on the bus today. Màu áo: đỏ, loại C. Ô: usually là thói quen, but ... today là thực tế: hôm nay không có ô, loại A. Chọn B.
Điều kiện thất bại. Khi câu hỏi hỏi về một thời điểm khác với thời điểm được mô tả nhiều nhất (vd hỏi “sáng nay” nhưng người nói tả chủ yếu “tối qua”), lưới phải lập lại theo đúng thời điểm được hỏi. Khi tranh khác nhau ở một chi tiết không ai nhắc đến, em đã hiểu sai câu hỏi: đọc lại.
Công cụ 2. Bộ Đếm Ngược Phủ Định
Khi nào dùng. Câu nhận định Đúng/Sai (và mọi câu nghe có từ phủ định).
Các bước.
- Gạch cực của câu nhận định: khẳng định hay phủ định.
- Khi nghe câu bằng chứng, trước hết cho câu qua cổng miễn trừ : not until , not only ... but also , no sooner ... than , couldn't + so sánh hơn ( couldn't agree more , couldn't be better ), câu hỏi đuôi hoặc câu hỏi tu từ ( Isn't it lovely? ).
- Nếu không thuộc miễn trừ: đếm dấu phủ định: n't , not , never , no , hardly , without , tiền tố un- , im- , in- , dis- mang nghĩa phủ định.
- Số lẻ: câu nghe mang nghĩa phủ định. Số chẵn: phủ định triệt tiêu, câu mang nghĩa khẳng định ( It isn't impossible nghĩa là có thể).
- So cực câu nghe với cực nhận định (cùng nội dung): trùng thì ĐÚNG, ngược thì SAI.
Hình 4. Bộ Đếm Ngược Phủ Định: qua cổng miễn trừ trước, rồi mới đếm chẵn lẻ.
Ví dụ mini. He never goes out without his walking stick. Không thuộc miễn trừ; đếm never (1) và without (2): chẵn, nên nghĩa khẳng định: ông luôn mang gậy. Nhận định He takes his stick when he goes out. là ĐÚNG. Với The shop didn't open until noon. : thuộc miễn trừ not until , nghĩa là cửa hàng có mở , vào buổi trưa; nhận định The shop was closed all day. là SAI.
Điều kiện thất bại. Ba chỗ bộ đếm hỏng. (a) couldn't disagree more : đếm n't và dis- ra số chẵn, tưởng là đồng ý; thật ra đây là cấu trúc “không thể ... hơn được nữa”, nghĩa là phản đối hoàn toàn . (b) hardly ever cộng any : any không phải dấu phủ định, không được đếm. (c) Tiền tố giả: under trong under ten dollars , in- trong indoor không phủ định; chỉ đếm tiền tố khi bỏ nó đi ra một từ trái nghĩa ( impossible và possible ).