Bỏ qua đến nội dung chính

Ngữ văn 9 · Im lặng: chắt chiu điều ân nghĩa, văn chương giữ nguồn cảm xúc

Ngữ văn lớp 9 nâng cao · Đề HSG Phú Thọ 2025–2026: bài học im lặng từ thơ Nguyễn Hữu Quý và nghị luận lí luận văn học về nguồn cảm xúc, bản chất người.

Cập nhật: 2026-10-05

Môn: Ngữ văn · Tài liệu THCS

LUKATO · NGỮ VĂN · ĐỊNH HƯỚNG LỚP 9

Im lặng. Chắt chiu điều ân nghĩa.

Đề HSG Phú Thọ 2025–2026: từ một bài học sống được gợi bởi thơ Nguyễn Hữu Quý đến câu nghị luận lí luận văn học về cảm xúc và bản chất người.

Đủ 2 câu nguồn · 8 + 12 điểm 2 bài mẫu hoàn chỉnh 12 lựa chọn · 8 đúng/sai · 3 vận dụng

01 · ĐỊNH HƯỚNG

Một đề, hai năng lực

Đối tượng: học sinh lớp 9 luyện thi học sinh giỏi. Ảnh nguồn ghi Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 THCS cấp tỉnh Phú Thọ, năm học 2025–2026, ngày 03/02/2026, thời gian 150 phút. Các lời giải, bài mẫu, câu luyện và tiêu chí dưới đây do LUKATO biên soạn, không phải đáp án hoặc thang chấm chính thức.

Câu 1 · 8,0 điểm

Nghị luận xã hội: từ đoạn thơ “Im lặng”, suy nghĩ về bài học im lặng trong cuộc sống. Trọng tâm là giải thích, bàn luận và đặt giới hạn để không biến im lặng thành né tránh.

Câu 2 · 12,0 điểm

Nghị luận văn học: giải thích nhận định về nguồn cảm xúc, bản chất người và sức truyền cảm của văn chương; dùng trải nghiệm văn học để làm sáng tỏ.

Nguyên tắc: Câu 1 phải đi từ ngữ liệu tới vấn đề sống. Câu 2 phải đi từ khái niệm lí luận tới tác phẩm cụ thể. Cả hai đều cần giới hạn để tránh lời khẳng định tuyệt đối.

02 · NGUỒN GỐC

Giữ đủ đoạn thơ, nhận định và hai phát lệnh

Thông tin trên ảnh nguồn: SỞ GD&ĐT PHÚ THỌ · Kỳ thi chọn HSG lớp 9 THCS cấp tỉnh · Năm học 2025–2026 · Môn Ngữ văn · 150 phút · Ngày 03/02/2026.

CÂU 1 · 8,0 ĐIỂM

Tôi học ướt từ mưa học khô từ nắng học lời từ bụi học hát từ trăng học chắt chiu từ chua mặn đồng làng và, sau nữa tôi học về im lặng

Im lặng rễ, im lặng cành, im lặng... ừ nhỉ thảo thơm đâu cần phải nhiều lời sau vỏ trấu ta trắng ngà hạt ngọc chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Nguyễn Hữu Quý, Im lặng , Quân đội nhân dân cuối tuần , ngày 09/4/2020, theo ảnh nguồn được cung cấp.

Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về bài học im lặng trong cuộc sống.

CÂU 2 · 12,0 ĐIỂM

Văn chương nếu thiếu nguồn cảm xúc, thiếu bản chất người... sẽ chỉ còn là những trang viết vô hồn, không có khả năng truyền cảm, hấp dẫn; không có sức cảm hoá, thanh lọc tâm hồn con người.

PGS.TS Phan Trọng Thưởng, Bàn thêm về bản chất của văn học , NXB Văn học, Hà Nội, 2019, tr.107–108, theo ảnh nguồn.

Bằng trải nghiệm văn học, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Bản học giữ chữ in của ảnh nguồn; các nét khoanh, gạch chân và ghi tay trên ảnh không được đưa vào văn bản.

03 · ĐỌC SÂU

“Im lặng” không chỉ có một nghĩa

Bốn lớp nghĩa cần phân biệt khi nghị luận về im lặng

Chi tiết nguồn · Điều có thể rút ra · Điều không nên ép

“học ướt từ mưa / học khô từ nắng / học lời từ bụi / học hát từ trăng” · Con người học từ nhiều trạng thái và trải nghiệm của đời sống. · Không biến từng dòng thành một quy tắc đạo đức tách rời.

“học chắt chiu từ chua mặn đồng làng” · Trưởng thành gắn với tích lũy điều nhỏ, cả khó nhọc lẫn ân nghĩa. · Không suy một tiểu sử cụ thể của cái “tôi” nếu nguồn không cho biết.

“sau vỏ trấu ta trắng ngà hạt ngọc” · Giá trị có thể nằm sau lớp ngoài giản dị; cần nhìn sâu. · Không đọc hình ảnh như một bài sinh học về hạt lúa.

“thảo thơm đâu cần phải nhiều lời” · Lòng tốt không được đo bằng số lượng lời nói. · Không kết luận lời nói luôn vô ích.

Cấu trúc đoạn thơ: chuỗi “học…” tạo nhịp tích lũy; sau đó “im lặng” được gọi ở rễ, cành và mở bằng dấu ba chấm, khiến khái niệm lan từ một hành vi thành một phẩm chất có chiều sâu. Hai dòng cuối đưa sự im lặng về gần với ân nghĩa đời thường.

04 · GIẢI CÂU 1

Nghị luận xã hội: im lặng có điều kiện

Luận đề gợi ý: Im lặng đáng học khi nó là không gian của lắng nghe, suy nghĩ và hành động; nhưng im lặng phải dừng lại ở nơi sự thật, an toàn và trách nhiệm đòi hỏi con người lên tiếng.

Dàn ý sáu bước · Câu 1

  • Mở vấn đề: từ “tôi học về im lặng”, xác định đây là một bài học sống, không phải lệnh cấm nói.
  • Giải thích: im lặng đúng nghĩa có thể là lắng nghe, suy nghĩ, giữ điều sâu kín, để hành động chứng thực lời nói.
  • Bàn giá trị: im lặng giúp quan sát, tự kiểm, tránh phản ứng vội, nhận ra điều tử tế không phô trương.
  • Bàn điều kiện: im lặng chỉ tốt khi không làm tổn hại sự thật, an toàn, công bằng và nhu cầu được trợ giúp.
  • Phản biện: im lặng trước bắt nạt, bạo lực, gian lận hoặc nguy hiểm có thể là vô trách nhiệm.
  • Hành động: luyện dừng trước khi đáp, kiểm chứng trước khi nói, làm nhiều hơn khoe; nhưng biết lên tiếng đúng lúc, đúng người, đúng cách.

Bài văn mẫu hoàn chỉnh · Câu 1

Có những lúc con người nói để hiểu nhau, nhưng cũng có những lúc điều cần học lại nằm trong khoảng không lời. Đoạn thơ của Nguyễn Hữu Quý đi từ mưa, nắng, bùn, trăng, vị “chua mặn đồng làng” đến một bài học cuối mùa: “tôi học về im lặng”. Im lặng ở đây không phải một mệnh lệnh bắt con người câm nín. Nó gợi một năng lực sống: biết dừng lại, lắng nghe, chắt lọc, giữ điều đáng giữ và để hành động có sức nặng hơn lời nói. Bài học ấy cần thiết, nhưng chỉ có ý nghĩa khi im lặng đi cùng tỉnh táo và trách nhiệm.

Trước hết, im lặng có thể là một cách lắng nghe. Khi vội đáp ngay, ta dễ chỉ nghe tiếng của chính mình. Một khoảng dừng giúp ta tiếp nhận trọn ý của người đối diện, nhận ra sắc thái của hoàn cảnh và kiểm tra phản ứng của bản thân. Trong học tập, học sinh không phải lúc nào cũng cần tranh phần nói trước; biết nghe câu hỏi, đọc kĩ dữ kiện, quan sát cách một bạn giải khác mình cũng là một hình thức học. Im lặng như thế không thụ động, bởi bên trong nó có hoạt động suy nghĩ.

Im lặng còn là khả năng chắt chiu. Cụm từ “học chắt chiu từ chua mặn đồng làng” đặt bài học trong những trải nghiệm có vị của đời sống. Đến “sau vỏ trấu ta trắng ngà hạt ngọc”, hình ảnh hạt gạo cho thấy giá trị có thể nằm sau một lớp ngoài giản dị. Nhiều điều tử tế trong đời cũng vậy: cha mẹ chuẩn bị một bữa ăn, người bạn giữ lời hẹn, một người lặng lẽ làm xong phần việc chung. Không phải lúc nào giá trị cũng đi kèm lời giới thiệu lớn. Biết im lặng quan sát giúp ta nhìn thấy công sức và “những điều ân nghĩa chẳng xa xôi” vốn dễ bị bỏ qua.

Ở một chiều khác, im lặng có thể giúp lời nói trở nên có trách nhiệm. “Thảo thơm đâu cần phải nhiều lời” không có nghĩa lời nói vô ích; nó nhắc rằng số lượng lời không tự bảo đảm chân thành. Một lời xin lỗi có ý nghĩa khi theo sau là sửa sai. Một lời hứa chỉ đáng tin khi được thực hiện. Vì thế, học im lặng cũng là học chống lại thói quen phô trương: bớt nói điều mình chưa chắc, bớt hứa điều mình không làm, bớt biến cảm xúc nhất thời thành phán xét người khác.

Tuy nhiên, tuyệt đối hóa im lặng sẽ làm sai bài học. Có những hoàn cảnh con người cần lên tiếng: khi thấy bạo lực, bắt nạt, gian lận, nguy hiểm hoặc một người cần được bảo vệ. Im lặng trước sai trái có thể biến thành né tránh trách nhiệm. Cũng có khi người đang tổn thương cần được nói ra để tìm sự trợ giúp. Vì thế, điều quan trọng không phải “luôn im lặng”, mà là biết phân biệt: khi nào nên lắng nghe, khi nào cần nói; nói điều gì, với ai và bằng cách nào.

Với học sinh, bài học ấy có thể được thực hành rất cụ thể. Trước một tranh cãi, hãy chờ vài nhịp để hiểu vấn đề trước khi phản ứng. Trước một lời đồn, hãy kiểm tra thay vì truyền tiếp. Trong việc chung, hãy để kết quả xác nhận trách nhiệm. Nhưng khi gặp điều gây hại, hãy tìm người lớn đáng tin cậy và nói rõ sự việc. Im lặng đúng lúc làm con người sâu hơn; lên tiếng đúng lúc làm con người có trách nhiệm hơn.

Đoạn thơ bắt đầu bằng những bài học từ mưa, nắng, bùn, trăng và kết ở “im lặng”. Trình tự ấy gợi một quá trình trưởng thành: từ tiếp xúc với đời sống đến biết lọc ra ý nghĩa của đời sống. Im lặng đáng học không phải là khoảng trống vô nghĩa. Nó là khoảng dành cho lắng nghe, biết ơn, suy nghĩ và hành động; đồng thời luôn phải nhường chỗ cho tiếng nói cần thiết trước sự thật và trách nhiệm.

Bẫy 1 · tuyệt đối hóa

“Im lặng luôn tốt” là sai phạm vi. Cần phân biệt im lặng để lắng nghe với im lặng trước sai trái.

Bẫy 2 · nói chung chung

“Im lặng là vàng” không đủ. Phải giải thích cơ chế: im lặng giúp điều gì, trong hoàn cảnh nào, và khi nào phải dừng.

Bẫy 3 · bỏ ngữ liệu

Phải quay lại “chắt chiu”, “vỏ trấu – hạt ngọc”, “ân nghĩa” để chứng minh cách đề gợi vấn đề.

Bẫy 4 · đạo đức hóa người tổn thương

Không dùng “hãy im lặng” để yêu cầu người bị hại chịu đựng. Trong nhiều tình huống, nói ra và tìm trợ giúp mới là trách nhiệm.

05 · KHÓA NHẬN ĐỊNH CÂU 2

Từ khái niệm tới tiêu chí đọc

Bốn mắt xích của nhận định về văn chương

Khái niệm · Cách hiểu dùng được trong bài · Tránh

Nguồn cảm xúc · Rung động chân thực của người viết trước đời sống, được nghệ thuật hóa. · Đồng nhất với khóc nhiều, than nhiều hoặc lời khen chê trực tiếp.

Bản chất người · Những vấn đề cốt lõi của đời sống con người: yêu thương, đau khổ, khát vọng, trách nhiệm, lựa chọn, giới hạn. · Biến thành một định nghĩa sinh học hoặc một khẩu hiệu đạo đức.

Truyền cảm, hấp dẫn · Làm người đọc tham dự cảm xúc và thế giới tác phẩm qua hình thức nghệ thuật. · Cho rằng chỉ đề tài buồn mới truyền cảm.

Cảm hóa, thanh lọc · Mở khả năng tự soi, đồng cảm, điều chỉnh cách nhìn và giá trị sống. · Khẳng định mọi người đọc đều thay đổi giống nhau sau một tác phẩm.

06 · GIẢI CÂU 2

Nghị luận văn học: cảm xúc, bản chất người và nghệ thuật

Mấu chốt: Không chứng minh bằng cách chỉ kể nội dung ba tác phẩm. Mỗi dẫn chứng phải có 4 bước: vấn đề con người → chi tiết/hình tượng → cách nghệ thuật tổ chức → tác động cảm xúc/nhận thức.

Dàn ý có đối thoại với nhận định · Câu 2

  • Giải thích nhận định: cảm xúc và chiều sâu nhân bản là nguồn sống của văn chương; nếu thiếu, chữ nghĩa dễ lạnh và khó tạo đồng cảm.
  • Bổ sung: cảm xúc phải được nghệ thuật hóa; tư tưởng và kĩ thuật không bị phủ nhận.
  • Chứng minh 1 – “Bếp lửa”: kỉ niệm cụ thể và tình bà cháu làm hình ảnh bếp lửa trở thành điểm tụ cảm xúc, lòng biết ơn.
  • Chứng minh 2 – “Chiếc lược ngà”: tình huống nhận cha muộn và vật kỉ niệm làm nổi bi kịch chiến tranh cùng tình cha con.
  • Chứng minh 3 – “Lặng lẽ Sa Pa”: cuộc gặp ngắn cho thấy vẻ đẹp lao động, cô đơn, trách nhiệm và đời sống tinh thần của người lao động.
  • Đánh giá: chính hình thức nghệ thuật khiến cảm xúc có độ chính xác; tác động “thanh lọc” là khả năng được mở ra cho người đọc.

Bài văn mẫu hoàn chỉnh · Câu 2

Bài viết mới của LUKATO dùng ba tác phẩm quen thuộc làm ví dụ. Đây là một cách triển khai, không phải đáp án chính thức hay danh mục tác phẩm bắt buộc.

Nhận định của PGS.TS Phan Trọng Thưởng đặt cảm xúc và “bản chất người” vào trung tâm của văn chương. Nếu tác phẩm chỉ còn chữ nghĩa được sắp xếp mà thiếu rung động chân thực, thiếu sự quan tâm tới niềm vui, nỗi đau, phẩm giá và số phận con người, trang viết dễ trở nên lạnh và khó tạo được sự đồng cảm. Ý kiến vì thế không phủ nhận tư tưởng, hình thức hay kĩ thuật; nó nhấn mạnh nguồn sống khiến các yếu tố ấy có khả năng “truyền cảm, hấp dẫn”, đồng thời mở ra sức cảm hóa và thanh lọc tâm hồn người đọc.

“Nguồn cảm xúc” có thể hiểu là những rung động thực sự của người viết trước đời sống. Cảm xúc không đồng nghĩa với kể lể hay ủy mị. Trong tác phẩm có giá trị, cảm xúc được tổ chức bằng hình tượng, ngôn ngữ, tình huống và giọng điệu, nhờ đó người đọc không chỉ được thông báo một ý mà còn được đặt vào một trải nghiệm thẩm mĩ. “Bản chất người” gợi chiều sâu nhân bản: con người biết yêu thương, khát vọng, đau đớn, lựa chọn, day dứt, hi sinh; con người cũng có giới hạn, sai lầm và khả năng thay đổi. Khi văn chương chạm tới những điều ấy bằng một hình thức nghệ thuật phù hợp, nó có thể làm người đọc nhìn người khác và chính mình bằng một cái nhìn sâu hơn.

Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt cho thấy sức truyền cảm trước hết đến từ một nguồn tình cảm cụ thể. Hình ảnh bếp lửa không đứng riêng như một vật dụng; nó gắn với người bà, với tuổi thơ thiếu thốn, với những năm tháng được bà chăm chút và với nỗi nhớ khi người cháu đã đi xa. Từ một hình ảnh quen thuộc, bài thơ mở thành lòng biết ơn đối với người đã nhóm lửa và “nhóm” cả niềm tin. Người đọc bị cuốn vào bài thơ không vì một khẩu hiệu về tình bà cháu, mà vì cảm xúc được neo vào những kỉ niệm, những động tác và giọng hồi tưởng. Chính sự cụ thể khiến tình cảm trở nên đáng tin.

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng lại cho thấy cảm xúc văn chương có thể bật lên từ nghịch cảnh và khoảng cách. Ông Sáu trở về sau thời gian xa nhà nhưng bé Thu không nhận cha vì vết sẹo làm khuôn mặt ông khác với tấm ảnh em biết. Khi em nhận ra cha thì cuộc chia tay đã cận kề. Sau đó, chiếc lược được ông làm với tình yêu dồn nén trở thành vật chứa một tình cảm chưa kịp trao trọn. Tình huống ấy làm nổi rõ “bản chất người”: nhu cầu được yêu, được nhận ra, được bù đắp cho mất mát; đồng thời cho thấy chiến tranh xâm nhập vào những quan hệ gia đình bình thường như thế nào. Sức cảm hóa của truyện không đến từ việc bảo người đọc phải thương ai, mà từ việc để người đọc chứng kiến một tình yêu bị thử thách trong hoàn cảnh khắc nghiệt.

Luyện thi vào 10 và thi chuyên cùng LUKATO AI — đề thi thử, gia sư AI, chấm bài tự động.
Bắt đầu miễn phí

Xem thêm