Ước mơ và chính kiến: đọc bài nghị luận, phản biện có giới hạn, viết đoạn văn 200 chữ
Đọc bài nghị luận về ước mơ, phân biệt luận đề, luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng, rồi viết đoạn văn 200 chữ nêu chính kiến có giới hạn và tự chấm bằng thang tiêu…
Ngữ văn 9 · Đọc hiểu và nghị luận xã hội
Ước mơ và chính kiến: đọc bài nghị luận, phản biện có giới hạn, viết đoạn văn 200 chữ
Bài học đưa em đi trọn một vòng: đọc kĩ một văn bản nghị luận về ước mơ, xem tác giả thuyết phục người đọc bằng cách nào, rồi tự viết đoạn văn nêu chính kiến của riêng mình.
90 phút Mức: khá đến giỏi Tự chấm và tự sửa
Bạn sẽ học: luận đề, luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng · biện pháp tu từ có mục đích · chính kiến có giới hạn
1 Bản đồ bài học và tự kiểm tra đầu vào
Trước khi đọc, hãy biết mình sẽ đi qua những chặng nào và mang theo công cụ gì.
GV
Cô Lukato
Chào các em. Ai cũng từng nghe câu “hãy sống có ước mơ”. Nhưng đến khi làm bài đọc hiểu hay bài nghị luận, chỉ nhắc lại câu ấy thì chưa đủ điểm. Người đọc, người chấm, và cả chính chúng ta đều cần hỏi thêm: vì sao ước mơ quan trọng, quan trọng đến đâu , và khi nào thì không đúng . Bài này luyện đúng ba câu hỏi ấy.
Sau bài này em làm được gì
- Xác định được luận đề , các luận điểm , và tách được lí lẽ khỏi dẫn chứng trong một bài nghị luận ngắn.
- Gọi tên đúng biện pháp tu từ và nói được tác dụng trong ngữ cảnh , không chỉ ghi tên.
- Nêu chính kiến có lí do và có giới hạn : đồng tình đến đâu, ở điều kiện nào.
- Viết đoạn văn khoảng 200 chữ theo khung năm bước và tự chấm bằng thang tiêu chí.
1 · Đọc
- Việc em làm: Đọc bài nghị luận ba lượt, đánh dấu từ nối và ý chính
- Thời gian: 15 phút
2 · Phân tích
- Việc em làm: Luận đề, luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng; nghệ thuật thuyết phục
- Thời gian: 30 phút
3 · Nghĩ
- Việc em làm: Đồng tình, phản biện, đặt giới hạn cho một nhận định
- Thời gian: 15 phút
4 · Viết
- Việc em làm: Đoạn văn 200 chữ, đối chiếu mẫu, tự chấm và sửa
- Thời gian: 30 phút
Chuẩn bị
Em cần một quyển vở và một chiếc bút. Các ô nhập trong bài chỉ chấm câu trả lời ngắn (một số, một tên biện pháp). Những bài viết dài em làm vào vở, sau đó mở lời giải để đối chiếu và tự chấm.
Ba câu hỏi khởi động
Luận đề của một bài nghị luận là gì?
Sai. Nhan đề có thể gợi luận đề nhưng nhiều nhan đề chỉ là cách nói hình ảnh, chưa nêu quan điểm.
Đúng. Luận đề là “ý lớn nhất” mà mọi luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng đều phục vụ.
Sai. Câu đầu có thể chỉ để dẫn dắt hoặc nêu một quan niệm mà tác giả sắp phản bác.
Sai. Ví dụ là dẫn chứng, dùng để làm rõ luận điểm chứ không phải luận đề.
Câu nào dưới đây là một chính kiến (quan điểm cá nhân có thể tranh luận)?
Sai. Đây là nhận xét trung tính về thực tế, chưa cho thấy người viết đứng về phía nào.
Đúng. Có cụm “theo tôi”, có nhận định và điều kiện, người khác có thể đồng tình hoặc phản đối.
Sai. Đây là một dữ kiện đếm được, không phải quan điểm.
Sai. Đây chỉ nhắc lại đề, không đánh giá gì.
Một luận điểm được làm sáng tỏ bằng (giải thích vì sao) và bằng (ví dụ, số liệu, sự việc cụ thể).
2 Đọc văn bản: Chiếc la bàn trong ba lô
Đề tài “ước mơ” rất quen thuộc trong các đề đọc hiểu. Em sẽ luyện trên một bài nghị luận ngắn với dạng lập luận điển hình.
Chiếc la bàn trong ba lô
Bài nghị luận ngắn do LUKATO biên soạn. Các con số nhỏ đứng đầu câu là số thứ tự câu, dùng để em chỉ đúng vị trí khi trả lời.
1 Nhiều người nghĩ ước mơ là thứ xa xỉ, chỉ dành cho người rảnh rỗi. 2 Tôi lại nghĩ ước mơ giống như chiếc la bàn trong ba lô của người đi đường: nó không đi thay ta, nhưng cho ta biết mình đang hướng về đâu.
3 Trước hết, ước mơ tạo ra động lực bền bỉ. 4 Một học sinh mơ trở thành kĩ sư vẫn có thể mệt khi giải bài tập khó, nhưng em hiểu mỗi trang vở là một viên gạch lát con đường mình chọn. 5 Có ước mơ, việc học không còn là nhiệm vụ bị giao; có ước mơ, sự cố gắng có tên gọi và có đích đến. 6 Ngược lại, khi không biết mình muốn gì, người ta dễ sống theo thói quen như một chiếc lá trôi theo dòng nước.
7 Thứ hai, ước mơ giúp ta đứng vững sau thất bại. 8 Người chỉ làm việc để được khen sẽ quay lưng khi bị chê; người làm việc vì điều mình tin thì coi vấp ngã là một trạm dừng chân. 9 Nếu chẳng có điều gì đáng để theo đuổi, ta lấy sức đâu mà đứng dậy sau lần ngã đầu tiên?
10 Tuy nhiên, chiếc la bàn chỉ vạch ra hướng đi, không thể thay ta cất bước. 11 Nhiều bạn trẻ mải miết kể về điều mình sẽ làm mà chưa dành nổi mười phút mỗi ngày cho nó. 12 Ước mơ không đi kèm hành động chỉ là giấc mơ ban ngày. 13 Ngược lại, hành động thiếu ước mơ dẫn đường dễ biến thành chạy thật nhanh mà chạy sai hướng.
14 Vậy nên, hãy viết ước mơ của mình ra giấy và chia nó thành những bước đủ nhỏ để bắt đầu từ hôm nay. 15 Nếu con đường đổi hướng, đừng vội cho rằng mình thất bại: đôi khi la bàn chỉ cần được chỉnh lại kim.
Ba lượt đọc
- Lượt 1, đọc nhanh: chỉ cần trả lời “tác giả đang nói về chuyện gì và đứng về phía nào?”.
- Lượt 2, đọc chậm: gạch dưới các từ nối mở đầu ý: Trước hết, Thứ hai, Tuy nhiên, Vậy nên . Chúng là “biển chỉ đường” của bài.
- Lượt 3, đọc để hỏi: mỗi ý lớn được chứng minh bằng lí lẽ nào, ví dụ nào? Chỗ nào tác giả dùng hình ảnh thay cho lập luận?
Từ nối · Đoạn · Việc nó báo hiệu
Nhiều người nghĩ… Tôi lại nghĩ… · 1 · Nêu quan niệm phổ biến rồi đưa ra quan điểm của mình (luận đề)
Trước hết · 2 · Luận điểm thứ nhất
Thứ hai · 3 · Luận điểm thứ hai
Tuy nhiên · 4 · Chuyển hướng: nêu giới hạn, tránh hiểu lệch
Vậy nên · 5 · Rút ra lời khuyên, kết bài
Nhiệm vụ ba dấu
Trong vở, ghi ba thứ: (1) một câu nêu giá trị của ước mơ; (2) một hình ảnh nói về người sống thiếu ước mơ; (3) một câu thúc giục hành động . Bên cạnh mỗi câu, viết ngắn lí do em chọn.
Mở để đối chiếu ba dấu
Một cách chọn hợp lí: (1) câu 3 “ước mơ tạo ra động lực bền bỉ”; (2) câu 6, hình ảnh “chiếc lá trôi theo dòng nước”; (3) câu 14, “hãy viết ước mơ của mình ra giấy…”. Ba câu thuộc ba chức năng khác nhau: khẳng định giá trị, cảnh báo hệ quả, kêu gọi hành động. Nếu em chọn câu khác mà giải thích được chức năng của nó thì vẫn đạt.
Bài 1 Mức 1 · Nhận biết
Bài đọc “Chiếc la bàn trong ba lô” có bao nhiêu đoạn văn ? (Đoạn văn là mỗi khối chữ xuống dòng.)
Gợi ý 1. Nhìn các từ nối ở đầu đoạn: Trước hết, Thứ hai, Tuy nhiên, Vậy nên.
Gợi ý 2. Đoạn mở bài là đoạn đầu tiên, chưa có từ nối.
Chính xác! Bài có 5 đoạn: mở bài, hai luận điểm, một đoạn nêu giới hạn và một đoạn kết.
Bạn đang đếm số câu (15 câu), còn đề hỏi số đoạn văn.
Bạn có thể đã bỏ sót đoạn mở bài hoặc đoạn kết. Đếm lại từng khối chữ.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Bài gồm 5 đoạn: đoạn 1 (câu 1 và 2), đoạn 2 (câu 3 đến 6), đoạn 3 (câu 7 đến 9), đoạn 4 (câu 10 đến 13), đoạn 5 (câu 14 và 15). Tổng cộng 15 câu.
Bài 2 Mức 1 · Nhận biết
Câu nào (nhập số thứ tự câu) so sánh ước mơ với một vật dụng của người đi đường?
Gợi ý 1. Tìm từ so sánh “giống như”.
Gợi ý 2. Vật dụng ấy nằm trong một chiếc ba lô.
Chính xác! Câu 2 so sánh ước mơ với chiếc la bàn.
Câu 1 nêu quan niệm phổ biến, chưa có hình ảnh so sánh.
Câu 14 là lời khuyên hành động, không so sánh.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Câu 2: “ước mơ giống như chiếc la bàn trong ba lô của người đi đường”. Từ so sánh là “giống như”, vế được so sánh là ước mơ, vế so sánh là chiếc la bàn. Nét tương đồng: cả hai đều không đi thay ta nhưng chỉ cho ta biết hướng đi.
3 Luận đề, luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng: bộ khung của bài nghị luận
Bốn thuật ngữ này hay bị nhầm với nhau. Ta sẽ phân biệt chúng bằng chính bài đọc vừa rồi.
Hình dung bằng một ngôi nhà
Luận đề là mái nhà: ý lớn nhất che cho cả bài. Luận điểm là các cột nhà: mỗi cột nâng một phần của mái. Lí lẽ là lời giải thích vì sao cột ấy chắc. Dẫn chứng là những viên gạch cụ thể: sự việc, con số, nhân vật, tình huống. Một bài nghị luận tốt cần đủ cả bốn tầng; thiếu lí lẽ thì bài khô khan, thiếu dẫn chứng thì bài lơ lửng.
Luận đề
- Câu hỏi giúp nhận ra: Cả bài nhằm thuyết phục người đọc điều gì?
- Trong “Chiếc la bàn trong ba lô”: Ước mơ như chiếc la bàn: cho ta hướng đi, động lực và sức bền, nhưng chỉ có giá trị khi đi cùng hành động.
Luận điểm 1
- Câu hỏi giúp nhận ra: Ý lớn thứ nhất là gì? (thường ngay sau từ nối)
- Trong “Chiếc la bàn trong ba lô”: Câu 3: ước mơ tạo ra động lực bền bỉ.
Luận điểm 2
- Câu hỏi giúp nhận ra: Ý lớn thứ hai là gì?
- Trong “Chiếc la bàn trong ba lô”: Câu 7: ước mơ giúp ta đứng vững sau thất bại.
Luận điểm 3 (giới hạn)
- Câu hỏi giúp nhận ra: Tác giả rào đón hay bổ sung điều gì?
- Trong “Chiếc la bàn trong ba lô”: Câu 10: la bàn chỉ vạch hướng, không thể thay ta cất bước, tức ước mơ không thay được hành động.
Lí lẽ
- Câu hỏi giúp nhận ra: Vì sao luận điểm ấy đúng?
- Trong “Chiếc la bàn trong ba lô”: Câu 5, câu 8, câu 12: giải thích bằng đối chiếu hai kiểu người, hai kiểu hành động.
Dẫn chứng
- Câu hỏi giúp nhận ra: Có sự việc, tình huống, ví dụ cụ thể nào?
- Trong “Chiếc la bàn trong ba lô”: Câu 4 (học sinh mơ làm kĩ sư), câu 11 (bạn trẻ kể nhiều mà chưa làm).
Ghi nhớ
Luận đề trả lời câu hỏi “bài này muốn thuyết phục điều gì?”, không phải câu hỏi “bài này nói về đề tài nào?”. “Ước mơ” là đề tài . “Ước mơ là la bàn, cần đi cùng hành động” mới là luận đề .
Ví dụ mẫu 1 · Tìm luận đề của bài đọc
Đọc đoạn 1 và tìm chỗ tác giả bày tỏ quan điểm riêng. Câu 1 nêu quan niệm của “nhiều người”; câu 2 mở đầu bằng “Tôi lại nghĩ”. Vậy câu 2 là ứng viên luận đề.
Vì sao làm bước này: các từ như “tôi cho rằng”, “tôi lại nghĩ”, “theo tôi” là dấu hiệu của quan điểm người viết; còn “nhiều người nghĩ” thường là quan niệm đem ra để bàn lại.
Kiểm tra ứng viên bằng các luận điểm. Đoạn 2 nói động lực, đoạn 3 nói sức bền, đoạn 4 nói ước mơ không thay được hành động. Hình ảnh “không đi thay ta, nhưng cho ta biết mình đang hướng về đâu” bao được cả ba ý.
Vì sao: một luận đề đúng phải “che” được mọi luận điểm. Nếu có luận điểm nằm ngoài, ta chọn sai luận đề.
Viết luận đề thành một câu đầy đủ: “Ước mơ như chiếc la bàn: giúp con người có hướng đi, động lực và sức bền, nhưng chỉ có ý nghĩa khi ta hành động.”
Vì sao: câu trả lời đầy đủ có chủ ngữ, có nhận định và có điều kiện; chỉ ghi “ước mơ” là dừng ở đề tài.
Thử ngược để chắc chắn: “Ai cũng nên mơ thật lớn” không phải luận đề vì bài không hề khuyên như vậy; “Ước mơ” quá rộng; “Học sinh cần chăm học” lệch khỏi trọng tâm.
Vì sao: loại trừ ba kiểu sai (lệch ý, quá rộng, quá hẹp) giúp em tự tin hơn khi chọn.
Bẫy thường gặp
Một bạn viết: “Luận đề của bài là ước mơ.” Đây mới là đề tài. Hãy thử hỏi: “Tác giả muốn mình tin hoặc làm điều gì về ước mơ?” Câu trả lời “tin rằng ước mơ là la bàn, và phải hành động” mới là luận đề. Trong bài thi, câu trả lời chỉ có một từ khóa thường bị trừ điểm.
Bẫy thường gặp
Một bạn khác viết: “Dẫn chứng của đoạn 2 là câu 5: Có ước mơ, việc học không còn là nhiệm vụ bị giao.” Câu 5 là lí lẽ vì nó khái quát và giải thích. Dẫn chứng là câu 4, nơi có một tình huống cụ thể (học sinh mơ làm kĩ sư, mệt khi giải bài khó). Cách nhận nhanh: chỗ nào em hình dung được một người, một việc, một con số cụ thể thì đó là dẫn chứng.
Dẫn chứng thật và dẫn chứng giả định
Câu 4 của bài đọc là tình huống giả định (“Một học sinh mơ trở thành kĩ sư…”). Trong bài nghị luận ngắn, tình huống giả định được phép. Nhưng khi viết bài thi, dẫn chứng có thật (một nhân vật, một sự kiện, một số liệu em chắc chắn đúng) luôn thuyết phục hơn. Không được bịa ra “số liệu” hay “nhà khoa học nói rằng” khi không có thật.
Bài 3 Mức 1 · Nhận biết
Câu nêu luận điểm ở đầu đoạn 2 và ở đầu đoạn 3 là những câu số mấy? Nhập hai số, cách nhau dấu chấm phẩy.
Gợi ý 1. Luận điểm thường đứng ngay sau từ nối “Trước hết”, “Thứ hai”.
Gợi ý 2. Đoạn 2 bắt đầu ở câu 3; đoạn 3 bắt đầu ở câu 7.
Chính xác! Câu 3 và câu 7 nêu luận điểm, các câu sau triển khai bằng lí lẽ và dẫn chứng.
Câu 4 và câu 8 là câu triển khai (dẫn chứng, lí lẽ). Câu nêu luận điểm nằm ngay sau “Trước hết” và “Thứ hai”.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Đoạn 2: “Trước hết, ước mơ tạo ra động lực bền bỉ” (câu 3). Đoạn 3: “Thứ hai, ước mơ giúp ta đứng vững sau thất bại” (câu 7). Hai câu này đều đứng đầu đoạn, ngắn gọn, mang tính khẳng định.
Bài 4 Mức 2 · Vận dụng
Câu 4 (“Một học sinh mơ trở thành kĩ sư vẫn có thể mệt khi giải bài tập khó, nhưng…”) là lí lẽ hay dẫn chứng ? Nhập một trong hai cụm từ.
Gợi ý 1. Em có hình dung được một con người và một việc cụ thể không?
Gợi ý 2. Lí lẽ trả lời “vì sao”; dẫn chứng trả lời “ví dụ nào”.
Chính xác! Câu 4 kể một tình huống cụ thể nên là dẫn chứng (ví dụ minh họa).
Câu 4 kể một tình huống có người, có việc nên là dẫn chứng. Lí lẽ là câu giải thích khái quát như câu 5.