Về bên mẹ của Đặng Minh Mai: đọc kĩ thơ song thất lục bát, viết bài phân tích có căn cứ
Đọc bài thơ Về bên mẹ qua bốn độ phóng to: đếm tiếng, tìm vần, đọc từ ngữ trong ngữ cảnh, theo mạch cảm xúc; rồi viết bài phân tích 400 đến 500 chữ có dẫn…
Ngữ văn 9 · Đọc hiểu thơ và nghị luận văn học
Về bên mẹ của Đặng Minh Mai: đọc kĩ thơ song thất lục bát, viết bài phân tích có căn cứ
Bốn lần “phóng to” bài thơ, từ từng tiếng, từng dòng, từng khổ đến cả bài, để em tìm được bằng chứng và viết ra một nhận xét không chung chung.
75 phút Mức: khá đến giỏi Đọc, tìm bằng chứng, viết, tự sửa
Bạn sẽ học: nhận diện thể song thất lục bát · đọc từ ngữ trong ngữ cảnh · phân biệt bằng chứng với suy diễn · viết bài phân tích 400 đến 500 chữ
1 Chiếc kính lúp đọc thơ: bản đồ bài học
Đọc thơ giống cầm một chiếc kính lúp: càng phóng to đúng chỗ, càng thấy điều mắt thường bỏ qua.
GV
Cô Lukato
Các em thường thấy một bài thơ “hay” nhưng không nói được vì sao hay. Bài này chỉ cho em một cách: đi từ cái nhìn thấy được (số tiếng, vần, từ ngữ) đến cái cảm nhận được (nỗi xúc động, lòng biết ơn), và ở mỗi bước đều chỉ tay vào chữ trong bài để chứng minh.
Về bài thơ
“Về bên mẹ” là bài thơ của Đặng Minh Mai, xuất hiện trong nhiều tài liệu luyện đọc hiểu Ngữ văn 9. Bài gồm 20 dòng , trình bày thành 5 khổ, mỗi khổ 4 dòng (một số bản in gộp thành từng cụm tám dòng nhưng số dòng và thứ tự không đổi). Bài thơ nói về khoảnh khắc người con trở về bên mẹ: niềm ấm áp, niềm vui, cảm giác được che chở và lòng biết ơn.
Em cần có văn bản bài thơ trong tài liệu của lớp, đặt cạnh bài học. Để tôn trọng tác phẩm, bài học chỉ trích nguyên văn một dòng (dòng mở đầu bài thơ) cùng những cụm từ ngắn dùng làm bằng chứng. Bài học cũng không suy đoán tiểu sử hay hoàn cảnh sáng tác của tác giả, vì văn bản không cho ta những thông tin ấy.
1 · Tiếng và dòng
- Em nhìn vào: Số tiếng, vần, nhịp
- Câu hỏi đặt ra: Đây là thể thơ gì, nhạc điệu ra sao?
2 · Từ ngữ và hình ảnh
- Em nhìn vào: Cặp từ, từ láy, sự đối chiếu
- Câu hỏi đặt ra: Từ này gợi cảm giác gì trong ngữ cảnh?
3 · Khổ thơ và mạch cảm xúc
- Em nhìn vào: Năm khổ nối với nhau
- Câu hỏi đặt ra: Cảm xúc chuyển từ đâu đến đâu?
4 · Cả bài và bài viết
- Em nhìn vào: Luận điểm, dẫn chứng, giải thích
- Câu hỏi đặt ra: Nhận xét của em có đứng vững trên chữ trong bài không?
Một bài thơ có các khổ bốn dòng với số tiếng lần lượt 7, 7, 6, 8. Đó là thể thơ nào?
Sai. Lục bát chỉ có cặp 6 tiếng và 8 tiếng nối tiếp nhau.
Đúng. Hai dòng bảy tiếng (song thất) đi liền với cặp sáu tám (lục bát) tạo nên khổ bốn dòng 7, 7, 6, 8.
Sai. Thất ngôn tứ tuyệt có bốn dòng, mỗi dòng đều bảy tiếng.
Sai. Thơ tự do không gò số tiếng theo khuôn cố định.
Khi phân tích thơ, thế nào là một dẫn chứng tốt?
Sai. Chép dài làm bài loãng, và người chấm cần thấy phần phân tích của em.
Đúng. Dẫn chứng ngắn, có thật, đi kèm giải thích cụ thể là cách làm vững nhất.
Sai. Bài thơ không cho biết tiểu sử; đoán mò là suy diễn không có căn cứ.
Sai. Từ ngữ khen chung chung đúng với mọi bài thơ nên không chứng minh được gì.
Hai dòng bảy tiếng đầu mỗi khổ gọi là cặp ; hai dòng sáu tiếng và tám tiếng phía sau gọi là cặp .
2 Phóng to lần 1: đếm tiếng, tìm vần, gọi tên thể thơ
Ở độ phóng to nhỏ nhất, ta chưa bàn cảm xúc. Ta chỉ đếm, tìm và chỉ ra.
Thể song thất lục bát trong một câu
Mỗi khổ có bốn dòng: hai dòng bảy tiếng (song thất), rồi một dòng sáu tiếng và một dòng tám tiếng (lục bát). Nhiều tác phẩm cổ điển như “Chinh phụ ngâm” hay “Cung oán ngâm khúc” viết theo thể này, vì nhịp thơ mềm, hợp với lời tâm tình và ngâm ngợi.
Luật gieo vần chuẩn của một khổ
- Tiếng cuối dòng 1 (thanh trắc) vần với tiếng thứ 5 của dòng 2.
- Tiếng cuối dòng 2 (thanh bằng) vần với tiếng cuối dòng 3.
- Tiếng cuối dòng 3 vần với tiếng thứ 6 của dòng 4.
- Tiếng cuối dòng 4 vần với tiếng thứ 5 của dòng 1 ở khổ sau (đôi khi là tiếng thứ 3). Đây là mối nối giữa các khổ.
Các quy định chi tiết hơn về thanh bằng, thanh trắc ở từng vị trí còn nhiều, nhưng ở lớp 9 em chỉ cần nhận ra số tiếng , vị trí vần và nhịp ngắt .
Hình 1. Sơ đồ gieo vần chuẩn của một khổ song thất lục bát (ô được tô màu là các tiếng gieo vần).
Nhịp ngắt thường gặp
Dòng bảy tiếng thường ngắt 3/4, dòng sáu tiếng ngắt 3/3 (hoặc 2/2/2), dòng tám tiếng ngắt 4/4. Nhịp ngắt còn phụ thuộc nghĩa nên không phải lúc nào cũng cứng nhắc. Ví dụ dòng đầu của bài thơ: “Về bên mẹ / thấy lòng ấm quá” (3/4). Cách ngắt này tách hành động trở về ra khỏi cảm giác ấm áp, khiến người đọc dừng một nhịp thở trước khi nghe điều quan trọng nhất.
Ví dụ mẫu 1 · Đọc khổ đầu của “Về bên mẹ” bằng số và vần
Đếm tiếng từng dòng của khổ 1 trong văn bản của lớp: em được 7, 7, 6, 8. Cùng thứ tự ấy lặp lại ở cả năm khổ, vậy đây là thể song thất lục bát.
Vì sao làm bước này: nhận diện thể thơ luôn bắt đầu bằng đếm, không bằng cảm giác. Đếm xong, em có bằng chứng cứng.
Tìm vần chân của cặp lục bát: tiếng cuối dòng 2 là “đời” (vần “ơi”), dòng 3 là “người” (vần “ươi”). Hai vần không trùng hẳn nhưng cùng âm cuối “i” và âm chính gần nhau, nên gọi là vần thông (vần gần); luật thứ hai vẫn được giữ, chỉ là vần không chặt.
Vì sao: vần giữ cho các dòng liên kết với nhau như những mắt xích.
Tìm vần lưng: tiếng cuối dòng 3 là “người”, tiếng thứ 6 của dòng 4 là “lời”. Đây là luật thứ ba, cũng bằng vần thông “ươi – ơi”.
Vì sao: chữ “lời” ở giữa dòng 4 nghe như tiếng vọng của “người” ở cuối dòng 3.
Tìm mối nối sang khổ sau: tiếng cuối khổ 1 là “con”; ở khổ 2 dòng đầu, tiếng thứ 5 là “còn”. Hai tiếng cùng vần “on”. Khổ 2 và khổ 1 được nối bằng vần.
Vì sao: nối vần giữa các khổ làm bài thơ như một dải liền, hợp với tâm trạng tuôn ra không dừng.
Hãy thử ngay trên một khổ thơ do LUKATO tự viết, đúng luật thể song thất lục bát:
Khổ thơ mẫu: chiều bên bếp mẹ
Ngữ liệu do LUKATO tự biên soạn để luyện đếm tiếng và tìm vần.
Chiều xuống chậm, hiên vàng nắng nhạt
Khói bếp thơm, gió mát khắp nhà
Mẹ ngồi vá áo cho ta
Bao lo toan bỗng nhẹ xa trong lòng
Bẫy thường gặp
Thấy hai dòng cuối của khổ (6 tiếng rồi 8 tiếng) nhiều bạn vội kết luận “thể lục bát”. Lục bát đúng nghĩa chỉ có các cặp 6-8 nối nhau. Ở bài này mỗi khổ có hai dòng bảy tiếng đứng trước , nên phải gọi là song thất lục bát. Hãy luôn đếm từ dòng đầu của khổ.
Bẫy thường gặp
Có bạn viết: “Bài thơ có vần vì cuối các dòng đều có âm giống nhau.” Nói vậy quá chung. Cách viết chắc là chỉ ra vị trí và cặp từ vần : “đời – người” (cuối dòng 2, cuối dòng 3), “người – lời” (cuối dòng 3, tiếng thứ 6 dòng 4), đều là vần thông “ơi – ươi”. Câu có vị trí cụ thể thì người đọc kiểm tra được.
Bài 1 Mức 1 · Nhận biết
Dòng thơ luyện tập do LUKATO viết: “Chiều về mẹ đứng bên hiên đợi chờ”. Dòng này có bao nhiêu tiếng?
Gợi ý 1. Đếm từng tiếng, mỗi tiếng là một âm tiết viết rời.
Gợi ý 2. Một từ hai tiếng như “đợi chờ” vẫn phải tính là hai tiếng.
Chính xác! Dòng có 8 tiếng, đúng độ dài của dòng bát (dòng thứ tư) trong khổ song thất lục bát.
Có lẽ bạn đã đếm “đợi chờ” là một tiếng. Mỗi âm tiết viết rời là một tiếng: đợi, chờ.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Chiều (1), về (2), mẹ (3), đứng (4), bên (5), hiên (6), đợi (7), chờ (8): 8 tiếng. Dòng này vừa với vị trí dòng thứ tư (dòng bát) của một khổ song thất lục bát.
Bài 2 Mức 1 · Nhận biết
Ngắt dòng “Chiều về mẹ đứng bên hiên đợi chờ” (ở bài 1) theo nhịp 4/4 thường gặp của dòng bát. Nửa sau của dòng bắt đầu bằng tiếng nào?
Gợi ý 1. Nhịp 4/4 chia dòng thành hai nửa, mỗi nửa bốn tiếng.
Gợi ý 2. Mỗi nửa nên là một cụm trọn nghĩa: nửa đầu cho biết ai, làm gì; nửa sau cho biết ở đâu, để làm gì.
Chính xác! “Chiều về mẹ đứng / bên hiên đợi chờ”: hai nửa bốn tiếng, mỗi nửa trọn một ý.
Bạn đã ngắt sau tiếng thứ 5 (5/3), làm tách “bên” khỏi “hiên”. Nhịp 4/4 dừng sau tiếng thứ 4.
“Đứng” là tiếng thứ 4, tiếng cuối của nửa đầu. Nửa sau bắt đầu ngay sau nó.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Đếm bốn tiếng đầu: Chiều, về, mẹ, đứng. Nửa sau là “bên hiên đợi chờ”, bắt đầu bằng tiếng bên . Cách ngắt này giữ nguyên cụm “bên hiên” và cụm “đợi chờ”, nên đọc lên tự nhiên.
Bài 3 Mức 2 · Vận dụng
Ở khổ thơ mẫu do LUKATO viết, tiếng thứ 5 của dòng 2 gieo vần với tiếng cuối dòng 1 (“nhạt”). Đó là tiếng nào?
Gợi ý 1. Đếm đến tiếng thứ 5 của dòng “Khói bếp thơm, gió mát khắp nhà”.
Gợi ý 2. Tiếng ấy cũng mang thanh trắc.
Chính xác! “Mát” vần trắc với “nhạt” (cùng vần “at”).
“Nhà” là tiếng cuối dòng 2 (thanh bằng). Vần với “nhạt” là tiếng thứ 5.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Khói (1) bếp (2) thơm (3) gió (4) mát (5) khắp (6) nhà (7). Tiếng thứ 5 là “mát”, vần trắc với “nhạt” ở cuối dòng 1. Đó là luật thứ nhất.
Bài 4 Mức 2 · Vận dụng
Trong khổ thơ mẫu, tiếng cuối dòng 3 là “ta”. Tiếng thứ 6 của dòng 4 vần với nó là tiếng nào?
Gợi ý 1. Đếm dòng 4: Bao, lo, toan, bỗng, nhẹ, …
Gợi ý 2. Tiếng ấy phải cùng vần “a” với “ta”.
Chính xác! “Ta” và “xa” cùng vần “a”, đúng luật thứ ba.
“Lòng” là tiếng cuối dòng 4 (tiếng thứ 8), vần với tiếng thứ 5 của dòng đầu khổ sau, không phải với “ta”.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Bao (1) lo (2) toan (3) bỗng (4) nhẹ (5) xa (6) trong (7) lòng (8). Tiếng thứ 6 là “xa”, vần với “ta”.
Bây giờ đọc một khổ “nhái” có đúng một chỗ sai về số tiếng:
Khổ nhái: buổi sáng ngoài đồng
Ngữ liệu do LUKATO tự biên soạn, cố ý có một lỗi.
Sáng ra đồng, sương còn đọng lạnh
Tay mẹ cầm liềm, cánh đồng vàng
Mẹ cười, mái tóc bạc nhẹ nhàng
Gánh lúa về, nắng đã ngang đầu rồi
Bài 5 Mức 2 · Vận dụng
Dòng nào (nhập số 1 đến 4) của khổ nhái có số tiếng sai so với khuôn 7, 7, 6, 8?
Gợi ý 1. Đếm số tiếng từng dòng.
Gợi ý 2. Dòng sai không phải dòng dài nhất.
Chính xác! Dòng 3 có 7 tiếng, đáng lẽ chỉ có 6.
Dòng 4 có 8 tiếng, đúng khuôn. Đếm lại dòng 3.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Dòng 1: 7 tiếng. Dòng 2: 7 tiếng. Dòng 3 “Mẹ cười, mái tóc bạc nhẹ nhàng”: 7 tiếng (đáng lẽ 6). Dòng 4: 8 tiếng. Vậy dòng 3 sai.
Bài 6 Mức 3 · Thách thức
Muốn sửa dòng 3 của khổ nhái thành 6 tiếng mà giữ nguyên nghĩa và vần, em bỏ tiếng nào? Nhập tiếng đó.
Gợi ý 1. Dòng đang thừa đúng một tiếng; hãy tìm tiếng bỏ đi mà câu vẫn đủ nghĩa và tiếng cuối dòng không đổi.
Gợi ý 2. Thử bỏ lần lượt từng tiếng trong cụm danh từ chỉ tóc của mẹ: bỏ tiếng nào thì người đọc vẫn hiểu đó là tóc?
Chính xác! Bỏ “mái”, dòng còn “Mẹ cười, tóc bạc nhẹ nhàng”: 6 tiếng, cuối dòng vần “ang” với “vàng” ở dòng 2.
“Nhẹ” cần giữ vì nó tạo nghĩa cho “nhàng”. Bỏ “mái” là hợp lí hơn.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Bỏ “mái”, dòng 3 thành “Mẹ cười, tóc bạc nhẹ nhàng” (6 tiếng). Tiếng cuối “nhàng” vần với “vàng” (cuối dòng 2) và với “ngang” (tiếng thứ 6 dòng 4). Khổ thơ đúng luật.
Bài 7 Mức 2 · Vận dụng
Ở “Về bên mẹ”, tiếng cuối khổ 3 là “cười”. Tiếng thứ 5 của dòng đầu khổ 4 (dòng bắt đầu bằng “Cảm ơn lắm”) vần với nó là tiếng nào?
Gợi ý 1. Đếm: Cảm, ơn, lắm, cuộc, …
Gợi ý 2. Tiếng ấy có âm cuối “i” giống “cười”, dù âm chính không trùng hẳn.
Chính xác! “Cười” (vần “ươi”) và “đời” (vần “ơi”) là vần thông, nối khổ 3 với khổ 4.
“Cuộc” là tiếng thứ 4, đứng ngay trước tiếng cần tìm.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Cảm (1) ơn (2) lắm (3) cuộc (4) đời (5) có (6) mẹ (7). Tiếng thứ 5 là “đời”. Cặp “cười – đời” là mối nối giữa khổ 3 và khổ 4, đúng luật thứ tư; đây là vần thông (“ươi” và “ơi” cùng âm cuối “i”), không phải vần chặt.
Điều nên nhớ về mối nối giữa các khổ
Các mối nối giữa khổ đều có trong bài: “con – còn” (khổ 1 sang 2), “ghê – về” (khổ 2 sang 3), “cười – đời” (khổ 3 sang 4, vần thông), “dài – đài” (khổ 4 sang 5). Nhờ chuỗi vần này, năm khổ đọc liền một hơi, như lời kể không muốn dừng. Riêng khổ 2, em nên đối chiếu vần trong các dòng đầu trên văn bản trước khi nêu nhận xét, vì ở đó vần không chặt bằng các khổ khác.
3 Phóng to lần 2: từ ngữ và hình ảnh trong ngữ cảnh
Một từ chỉ có nghĩa cụ thể khi đặt cạnh những từ khác. Ta học cách đọc từ ngữ bằng bốn câu hỏi.
Bốn câu hỏi cho một dẫn chứng
- Có thật không? Từ ngữ đó thật sự xuất hiện trong bài (em tìm được nó trên văn bản).
- Đứng cạnh gì? Nó được đặt cạnh, lặp lại hoặc đối chiếu với từ nào?
- Gợi gì trong ngữ cảnh này? Cảm giác, hình ảnh, thái độ nào hiện lên?
- Giúp làm rõ điều gì? Nó phục vụ luận điểm nào của em?
Từ chung chung đến cụ thể
- Chưa đủ: “Tác giả dùng nhiều biện pháp tu từ làm bài thơ hay và giàu cảm xúc.”
- Cụ thể hơn: “Sự đối lập giữa ‘đã lớn’ và ‘thơ trẻ’ cho thấy vòng tay mẹ khiến người con trưởng thành vẫn tìm lại được cảm giác được nâng niu.”