Nhớ bà: từ một nỗi nhớ trong thơ đến đoạn văn cảm nhận có bằng chứng
Đọc thơ năm chữ Nhớ bà, chọn bằng chứng, phân tích so sánh, nhân hóa, điệp cấu trúc, viết đoạn cảm nhận khoảng 200 chữ và tự chấm bằng thang 4 điểm.
Ngữ văn 7 · Đọc thơ và viết đoạn cảm nhận
Nhớ bà: từ một nỗi nhớ trong thơ đến đoạn văn cảm nhận có bằng chứng
Em sẽ học cách đọc bài thơ “Nhớ bà” chậm và kĩ, chọn đúng chi tiết làm bằng chứng, gọi tên và giải thích nghệ thuật, rồi viết một đoạn khoảng 200 chữ vừa có cảm xúc thật vừa có lí lẽ.
75 phút Lớp 7 · mức cơ bản – khá Thơ năm chữ, nhân hóa, đoạn 200 chữ
Bạn sẽ học: đọc mạch cảm xúc, chọn bằng chứng, phân tích thủ pháp, xây câu và đoạn văn, tự chấm bằng thang 4 điểm.
1 Bản đồ bài học và phép thử đầu vào
Ta đi một vòng quanh ngôi nhà của bà trước, rồi thử sức bằng ba câu hỏi nhỏ.
“Nhớ bà” là một bài thơ năm chữ của nhà thơ Trương Anh Tú, in trong tập thơ “Những mùa hoa anh nói”. Bài thơ chỉ có năm khổ, mỗi khổ bốn dòng, nhưng người đọc thường nhớ rất lâu vì nỗi nhớ trong đó không được nói thành lời to tát. Nó nằm ngay trong những thứ nhỏ bé nhất của một ngôi nhà quê: bậu cửa, gầu giếng, cây chổi tre, bếp củi.
Trước khi học
Cách dùng bài này. Bài thơ còn trong thời hạn bản quyền, nên bài học chỉ trích nguyên văn bốn dòng thơ ngắn cần phân tích (dòng 1, 18, 19, 20) và một số cụm hai, ba tiếng (như “gầu giếng khóc” ở dòng 7); các chỗ khác được gọi theo số thứ tự dòng, đánh số từ 1 đến 20. Em hãy mở bài thơ trong sách hoặc tài liệu của lớp, đọc thành tiếng từ đầu đến cuối một lần, rồi đặt bên cạnh khi làm bài. Mọi con số về số dòng, số tiếng, số lần lặp trong bài học đều đã được đếm bằng chương trình trên đúng văn bản bài thơ.
Mười chặng dưới đây đi theo đúng đường mà nỗi nhớ đi trong bài: từ bậu cửa, gầu giếng, chổi tre đến bếp củi cuối bài, rồi trở về trang vở của em.
Chặng · Điều cần trả lời · Việc làm với “Nhớ bà”
1. Khởi động · Em đã biết gì về bài thơ năm khổ này? · Ba câu về thể thơ, đề bài và số dòng
2. Đọc kĩ bài thơ · Bài thơ được dựng như thế nào? · Đếm tiếng, tìm vần, theo dõi mạch không gian
3. Đọc đề · Đề bắt em làm gì? · Phân biệt cảm xúc với kể lại
4. Chọn bằng chứng · Chi tiết nào đáng dẫn? · Lọc chi tiết, hỏi “vì sao gợi nhớ?”
5. Nghệ thuật · Thủ pháp nào tạo cảm xúc? · Gọi tên, nêu hiệu quả, gắn với cảm xúc
6. Xây câu, xây đoạn · Một câu phân tích tốt trông ra sao? · Dùng công thức bốn bước
7. Đoạn mẫu và thang chấm · Vì sao đoạn D hơn đoạn A đến 2,5 điểm? · Chấm bốn bản nháp về bà, cộng điểm từng ô
8. Luyện tập · Em làm được chưa? · Bài tập có gợi ý và lời giải
9. Thách thức · Em có thể viết hay hơn không? · Nâng cấp đoạn văn của mình
10. Tự kiểm tra · Em nhớ gì, cần ôn gì? · Danh sách kiểm tra và kế hoạch
GV
Cô Lukato
Cô hay nói với học trò: viết cảm nhận không phải là thi xem ai biết nhiều thuật ngữ hơn. Đó là cuộc trò chuyện giữa em và bài thơ. Em nghe thấy gì, em nhìn thấy gì, và vì sao điều đó chạm vào em. Giờ là ba câu khởi động về “Nhớ bà”; sai cũng không sao, cô chỉ muốn biết em đang đứng ở đâu.
Bài thơ “Nhớ bà” thuộc thể thơ nào?
Sai: thơ bốn chữ có mỗi dòng bốn tiếng. Bài này mỗi dòng dài hơn thế.
Đúng: mỗi dòng của bài thơ đều có đúng năm tiếng, trong cả năm khổ.
Sai: bài lục bát phải có dòng tám tiếng xen sau dòng sáu tiếng; đếm dòng 1 “Bà tôi như cơn gió” chỉ ra năm tiếng, và cả hai mươi dòng của “Nhớ bà” không có dòng nào dài tới tám.
Sai: nếu là thơ tự do, các dòng sẽ dài ngắn tuỳ ý; ở đây từ dòng 1 đến dòng 20 “nhớ bà... vàng mùa thu”, dòng nào cũng dừng đúng ở tiếng thứ năm.
Đề bài: “Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ ghi lại cảm xúc của em về bài thơ Nhớ bà.” Hãy xét các ý sau.
a) Bài viết cần chỉ ra em xúc động ở chi tiết nào, chẳng hạn hình ảnh bà nơi bậu cửa hay chiếc gầu giếng.
Đúng: cảm xúc cần một chỗ bám là đồ vật hay âm thanh cụ thể trong nhà bà; thiếu chỗ bám ấy, câu văn trôi thành lời khen chung.
b) Nên tóm tắt lần lượt nội dung từng khổ: khổ một nói gì, khổ hai nói gì…
Sai: đi lần lượt “khổ một nói bà như cơn gió, khổ hai nói gầu giếng…” chỉ là kể lại năm khổ. Đề muốn biết chi tiết nào trong năm khổ ấy làm em xúc động và vì sao.
c) Nếu muốn nói cả về “gầu giếng khóc” lẫn “tiếng chổi tre”, em vẫn viết hai ý ấy trong cùng một khối, nối bằng một câu chuyển.
Đúng: đề ghi “một đoạn văn”, nên chi tiết ở khổ 2 và chi tiết ở khổ 3 cùng phục vụ một cảm xúc chung và không được xuống dòng thành hai đoạn riêng.
d) Câu “Nỗi nhớ bà của người cháu rất lớn và rất sâu sắc” đã đủ làm phần bằng chứng cho đoạn văn.
Sai: câu ấy mới khẳng định cảm xúc, chưa có chữ nào của bài thơ. Muốn thành bằng chứng, em phải dẫn một cụm như “củi nằm trong bếp ngủ” và nói vì sao nó làm nỗi nhớ lớn lên.
Bài thơ “Nhớ bà” có khổ; mỗi khổ có dòng; vậy cả bài có dòng, và mỗi dòng có tiếng.
Điền đúng con số 20 dòng và nhận ra thể năm chữ là em đã có nền để đi tiếp. Còn sai chỗ nào, hãy giữ bài thơ bên cạnh: chặng 2 sẽ cùng em đếm lại từng khổ, từ bậu cửa đến bếp củi.
2 Đọc kĩ bài thơ: hình thức và mạch không gian
Muốn viết về cảm xúc, trước hết em phải nhìn thấy bài thơ được dựng bằng những gì.
Ba dấu hiệu nhận ra thơ năm chữ
Thơ năm chữ có mỗi dòng năm tiếng. Muốn kiểm tra, em đọc chậm từng dòng và gạch một vạch dưới mỗi tiếng. Ví dụ dòng đầu bài: Bà / tôi / như / cơn / gió , đúng năm tiếng. Dòng cuối bài: nhớ / bà / vàng / mùa / thu , cũng năm tiếng.
Dấu hiệu thứ hai là nhịp. Thơ năm chữ thường ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2. Đọc “Bà tôi / như cơn gió” thì nhịp 2/3; đọc “củi nằm / trong bếp ngủ” cũng nhịp 2/3. Nhịp ngắn khiến giọng thơ như lời thủ thỉ, không cao giọng.
Dấu hiệu thứ ba là vần. Trong bài này, ở cả bốn khổ đầu, tiếng cuối của dòng hai và dòng bốn hiệp vần với nhau. Khổ một là “rồi” với “thôi”, vần “ôi”. Khổ hai là “đèo” với “veo”, vần “eo”. Khổ ba là “mây” với “đây”, vần “ây”. Khổ bốn là “trời” với “rơi”, vần “ơi”. Vần đặt ở cuối dòng gọi là vần chân ; hai dòng cách nhau một dòng mới hiệp vần thì gọi là vần cách .
Bẫy thường gặp: đếm “xa xôi” là một
Gặp từ láy, nhiều em gộp hai tiếng làm một. Dòng 6 của bài thơ (dòng mở đầu bằng từ “xa xôi”) có năm tiếng, nhưng chỉ có bốn từ vì “xa xôi” là một từ hai tiếng. Khi xét thể thơ, “xa xôi” vẫn tính là hai tiếng , cũng như “im lìm” ở dòng 8 và “xào xạc” ở dòng 9.
Hình 1. Bốn khổ đầu hiệp vần ở dòng 2 và dòng 4 (vần cách); khổ cuối vần lỏng.
Khổ cuối là chỗ đáng chú ý. Nếu em kiểm tra, dòng hai kết thúc bằng “bà” còn dòng bốn kết thúc bằng “thu”, hai tiếng ấy không hiệp vần với nhau. Ở bốn khổ đầu vần đều đặn, đến khổ cuối vần lỏng ra. Một cách đọc có căn cứ: khổ cuối như một hơi thở buông, nhường chỗ cho hình ảnh cuối cùng “vàng mùa thu”. Đây là cách đọc gợi mở của LUKATO, em có thể có cách hiểu khác miễn bám vào văn bản.
Một chi tiết nhỏ khác của bài: ở khổ bốn, dòng hai (dòng 14) kết thúc bằng cụm “đất trời”, mà dòng một (dòng 13) đã có “trời đất”. Hai cụm “trời đất” và “đất trời” đảo chỗ cho nhau như hai đợt sóng nhỏ, làm nhịp thơ mềm đi. Các tác giả thường dùng cách đảo trật tự từ này khi muốn nhịp câu chảy nhẹ hơn.
GV
Cô Lukato
Đếm tiếng, dò vần nghe thì khô, nhưng chính việc ấy cho ta biết Trương Anh Tú kể nỗi nhớ bằng giọng nào. Bài này chọn giọng nhỏ, đều, thủ thỉ. Với một nỗi mất mát, giọng ấy nghe còn thấm hơn giọng kêu than.
Ví dụ 1 · Đọc một khổ thơ thành ba lớp
Lớp thứ nhất là hình ảnh . Hãy đọc khổ hai và ghi ra những thứ hiện lên: “chín suối”, “chín đèo”, “gầu giếng”, “nước trong veo”. Chỉ liệt kê, chưa nhận xét.
Vì sao làm bước này: em phải nhìn thấy đủ chất liệu thì mới có gì để nói. Người viết vội thường bỏ sót chi tiết.
Lớp thứ hai là cảm giác . Hỏi: đọc xong những hình ảnh ấy, em thấy không khí thế nào? Chín suối và chín đèo gợi khoảng cách rất xa; “gầu giếng khóc”, “im lìm” gợi sự lặng đi, nước trong nhưng không ai múc.
Vì sao làm bước này: cảm giác là cầu nối giữa chi tiết và cảm xúc, nếu bỏ qua bước này câu văn sẽ nhảy vọt.
Lớp thứ ba là cảm xúc của em . Từ không khí lặng và vắng ấy, em thấy xót xa, thương và trống trải. Đến đây em có thể viết: “Khoảng lặng của chiếc gầu giếng khiến em cảm nhận rõ sự vắng bà.”
Vì sao làm bước này: cảm xúc chỉ thuyết phục khi nó đi ra từ chi tiết, đúng như con đường vừa đi: hình ảnh, cảm giác, cảm xúc.
Bây giờ hãy thử làm theo cách vừa học với các con số của bài thơ.
Bài 1 Mức 1 · Nhận biết
Dòng thơ luyện tập do LUKATO viết theo thể năm chữ: “Lom khom bà nhóm bếp”. Dòng này có bao nhiêu tiếng? Nhập một số.
Gợi ý 1. Đọc chậm dòng thơ và gạch một vạch dưới mỗi tiếng viết rời.
Gợi ý 2. “Lom khom” là một từ láy, nhưng khi xét thể thơ vẫn phải tính theo tiếng, giống “xa xôi” ở dòng 6 của bài.
Chính xác! Năm tiếng: lom, khom, bà, nhóm, bếp. Dòng này đúng khuôn thơ năm chữ.
Em đã gộp “lom khom” thành một. Đó là một từ nhưng gồm hai tiếng; thể thơ tính theo tiếng.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Các tiếng lần lượt là: lom, khom, bà, nhóm, bếp. Vậy dòng có 5 tiếng, đủ để đứng trong một bài thơ năm chữ như “Nhớ bà”. Nếu đếm theo từ (“lom khom”, “bà”, “nhóm”, “bếp”) em chỉ được bốn, nên nhớ: đếm tiếng, không đếm từ.
Bài 2 Mức 2 · Thông hiểu
Trong toàn bài thơ, tiếng “bà” xuất hiện tất cả bao nhiêu lần (tính cả những dòng như “nhớ bà”, “tay bà”)? Nhập một số.
Gợi ý 1. Đếm từng khổ một rồi cộng lại: khổ một, hai, ba, bốn, năm.
Gợi ý 2. Khổ bốn có một cụm lặp lại nhiều lần. Đừng bỏ sót dòng nào.
Chính xác! Tổng cộng 10 lần, dày nhất ở khổ bốn (3 lần).
Còn thiếu một lần. Hãy soát những chữ “bà” đứng sau một từ khác, như trong “bóng bà”, “tay bà”.
Có lẽ em chỉ tính cụm “ngỡ bà trong” một lần, trong khi nó lặp lại ba lần ở khổ bốn.
Lời giải mở sau khi bạn làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Theo từng khổ: khổ một 2 lần (“Bà tôi”, “bóng bà”), khổ hai 2 lần (“Bà đi”, “nhớ bà”), khổ ba 1 lần (“bà quét”), khổ bốn 3 lần (ba lần “ngỡ bà trong”), khổ năm 2 lần (“tay bà”, “nhớ bà”). Tổng: 2 + 2 + 1 + 3 + 2 = 10 .
Con số này cho thấy “bà” có mặt ở mọi khổ, và dày nhất ở khổ bốn.
Hình 2. Khổ bốn có tiếng “bà” dày nhất: 3 lần. Tổng cộng cả bài: 10 lần (số liệu đếm bằng chương trình).
Biểu đồ trên cho ta một phát hiện: khổ bốn là chỗ tiếng “bà” dày nhất, ba lần trong bốn dòng. Đó cũng là chỗ điệp cấu trúc “ngỡ bà trong” xuất hiện. Khi viết cảm nhận, những chỗ dày đặc kiểu này thường là chỗ cảm xúc dâng cao, và là nơi đáng để em chọn bằng chứng.
Ở khổ ba, tiếng cuối của bốn dòng lần lượt là “lá”, “mây”, “quét”, “đây”. Hai tiếng nào hiệp vần với nhau?
Sai: “lá” và “quét” là tiếng cuối của dòng một và dòng ba, chúng không hiệp vần với nhau.
Đúng: “mây” (dòng hai) và “đây” (dòng bốn) cùng vần “ây”, đó là vần chân theo kiểu vần cách.
Sai: “lá” (dòng một) và “mây” (dòng hai) đứng liền nhau nhưng vần “a” khác vần “ây”.
Sai: “quét” (dòng ba) và “đây” (dòng bốn) vần khác nhau: “et” và “ây”.
Mẹo làm bài
Khi cần tìm vần, em chỉ nhìn tiếng cuối của mỗi dòng , đọc to lên và nghe xem hai tiếng nào “đuôi giống nhau”. Đừng nhìn chữ cái đầu: vần là phần âm còn lại sau phụ âm đầu.
3 Đọc đề cho đúng: ghi lại cảm xúc không phải kể lại bài thơ
Phần lớn bài viết mất điểm không phải vì thiếu chữ, mà vì hiểu sai yêu cầu.
Ta lấy đề luyện: “Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ ghi lại cảm xúc của em về bài thơ Nhớ bà.” Đây là dạng đề quen thuộc của lớp 7: LUKATO viết lại theo dạng phổ biến để em luyện tập. Ta bóc đề thành từng phần.
Cụm trong đề · Nghĩa là gì · Em cần làm
“một đoạn văn” · Các câu nối liền nhau quanh một ý chính · Viết liền, không tách nhiều đoạn, không chia mục
“ghi lại cảm xúc” · Nói rõ mình rung động ở đâu, thế nào · Dùng ngôi “em”, có từ chỉ cảm xúc cụ thể
“của em” · Cảm xúc là của người đọc chứ không phải của người trong thơ · Xuất hiện “em” và suy nghĩ riêng, không chỉ tả nỗi nhớ của cháu
“về bài thơ Nhớ bà” · Cảm xúc phải bám vào văn bản · Có dẫn thơ ngắn làm bằng chứng
“khoảng 200 chữ” · Độ dài chừng 180 đến 220 tiếng · Chọn hai hoặc ba ý, mỗi ý có bằng chứng, không dàn trải
Ghi chú về “200 chữ”
Trong tiếng Việt học đường, “chữ” ở đề yêu cầu độ dài chính là số tiếng em viết ra (mỗi tiếng viết rời là một chữ). Đoạn văn mẫu ở mục 7 dài 206 chữ, tính bằng chương trình.
Để thấy sự khác nhau, mời em đọc ba đoạn văn nháp về cùng bài thơ. Chúng đều do LUKATO viết để luyện chấm, không phải bài của học sinh thật. Đọc chậm rồi tự hỏi: đoạn nào đang kể lại, đoạn nào đang nói suông, đoạn nào đã có bằng chứng nhưng chưa đủ sâu?
Đoạn A · nháp của bạn Nam
Bài thơ “Nhớ bà” có năm khổ. Khổ một nói bà như cơn gió đi về núi xanh, chỉ còn bóng bà trong mơ. Khổ hai nói bà đi xa và gầu giếng khóc. Khổ ba nói khu vườn cũ xào xạc và tiếng chổi tre của bà. Khổ bốn nói người cháu ngỡ thấy bà giữa trời đất, dáng núi và mưa rơi. Khổ năm nói sương khói, lửa ấm, củi nằm trong bếp và nhớ bà. Bài thơ rất hay và dùng nhiều biện pháp tu từ. Em rất thích bài thơ này.