Tiếng thơ từ một tấm lòng: chứng minh nhận định bằng đoạn thơ Viết cho con
Học cách giải thích một nhận định về thơ và dùng bài thơ Viết cho con của Lệ Thu làm bằng chứng: bóc từ khóa, sáu nhóm bằng chứng, vòng lặp lí luận, dàn ý và…
Ngữ văn 9 · Chuyên Văn · Lí luận văn học và phân tích thơ
Tiếng thơ từ một tấm lòng: chứng minh nhận định bằng đoạn thơ Viết cho con
Bài này dạy em làm một việc khó của đề chuyên Văn: giải thích một nhận định về thơ, rồi dùng bài thơ Viết cho con của Lệ Thu làm bằng chứng, sao cho lí luận và văn bản soi sáng lẫn nhau.
Khoảng 100 phút Mức: khá – giỏi Kiểu đề: giải thích + chứng minh
Em sẽ học: bóc tách nhận định · tìm bằng chứng trong thơ · viết vòng lặp lí luận – dẫn chứng · lập dàn ý 12 điểm
1 Bản đồ bài học và lần đọc đầu tiên
Trước khi học kĩ thuật, hãy nhìn toàn cảnh: em sẽ đi qua những trạm nào và cần mang theo điều gì.
Sau bài này em làm được
- Tách một nhận định về thơ thành các mệnh đề nhỏ, hiểu từng từ khóa thay vì đoán đại ý.
- Chỉ ra ít nhất sáu bằng chứng trong bài thơ và giải thích cơ chế vì sao mỗi bằng chứng làm nhận định đứng vững.
- Viết được một đoạn văn theo vòng lặp: nêu ý lí luận, dẫn thơ, phân tích, quay về lí luận.
- Lập dàn ý hoàn chỉnh cho câu nghị luận văn học 12 điểm và tự chấm bằng thang tiêu chí.
GV
Cô Lukato
Nhiều bạn giỏi phân tích thơ nhưng vẫn mất điểm ở đề dạng này. Lí do thường gặp: các em viết hai bài riêng, nửa đầu bàn về nhận định, nửa sau phân tích thơ như mọi khi, rồi không nối hai nửa lại. Cả bài học hôm nay xoay quanh việc khâu hai nửa ấy thành một tấm vải .
Lộ trình sáu trạm
Trạm · Em làm gì · Sản phẩm
1. Đọc thơ · Đọc chậm, biết hoàn cảnh, bố cục, thể thơ · Bản đồ bảy đoạn thơ
2. Đọc đề · Nhận diện dạng đề và quy trình năm bước · Phiếu phân tích đề
3. Bóc nhận định · Tách từ khóa, mệnh đề, phạm vi · Ba câu hỏi then chốt
4. Tìm bằng chứng · Sáu nhóm bằng chứng trong thơ · Bảng bằng chứng – cơ chế
5. Viết · Vòng lặp lí luận – dẫn chứng, dàn ý, mở bài, kết bài · Đoạn văn và dàn ý
6. Tự chấm · Luyện tập, bẫy, thang chấm 12 điểm · Bảng tổng kết
Kiểm tra đầu vào: ba câu hỏi nhanh
Đề yêu cầu “giải thích nhận định rồi chứng minh bằng một đoạn thơ”. Cách hiểu nào đúng nhất về nhiệm vụ?
Sai. Đây là lỗi “phân tích thơ như bình thường”: nhận định chỉ xuất hiện ở cuối nên không đóng vai trò cây thước đo.
Đúng. Nhận định là thước đo; mỗi chi tiết thơ được chọn vì nó đo được điều gì đó của nhận định, và phải nói ra điều ấy.
Sai. Đề yêu cầu chứng minh, nghĩa là văn bản thơ là chứng cứ bắt buộc, chiếm phần lớn dung lượng bài.
Sai. Kể lại nội dung là tóm tắt, chưa phải lập luận; không chọn lọc và không gắn với nhận định.
Một bạn học sinh nhận xét về lần đọc đầu tiên bài thơ Viết cho con.
a) Bài thơ ghi rõ nơi và năm sáng tác ở cuối văn bản: Hà Nội – Trường Sơn, 1973.
Đúng. Dòng ghi chú cuối bài giúp ta đặt bài thơ vào bối cảnh những năm kháng chiến chống Mĩ.
b) Bài thơ viết theo thể thơ lục bát vì có nhiều dòng sáu chữ và tám chữ.
Sai. Số chữ mỗi dòng thay đổi liên tục, không gieo vần đều đặn theo cặp sáu – tám; đây là thơ tự do.
c) Người nói trong bài thơ là một người mẹ, nói với đứa con nhỏ đang ngủ.
Đúng. Ngay dòng đầu: Đêm cuối cùng được ở bên con; và từ xưng hô “mẹ”, “con” lặp lại suốt bài.
d) Bài thơ chỉ nói về nỗi nhớ con, không hề nhắc đến đất nước hay lịch sử.
Sai. Từ đoạn thứ ba, “đất nước”, “thế hệ”, “nô lệ”, “lịch sử”, “Tổ quốc” xuất hiện và trở thành lí do của cuộc chia tay.
Trong bài thơ, người nói tự xưng là và gọi người nghe là . Cách xưng hô này tạo nên giọng gần gũi.
2 Làm quen với bài thơ: hoàn cảnh, thể thơ, bảy đoạn
Bài thơ khá ngắn nhưng nhiều tầng. Ta đọc như đi qua một căn nhà: đứng ngoài cửa trước, rồi mới vào từng phòng.
Thông tin cần nhớ chắc
- Tác giả: Lệ Thu (Trần Lệ Thu).
- Tác phẩm: Viết cho con; cuối bài có ghi nơi và thời gian sáng tác: Hà Nội – Trường Sơn, 1973.
- Thể thơ: thơ tự do (độ dài dòng thay đổi, không gieo vần theo khuôn cố định).
- Nhân vật trữ tình: người mẹ sắp lên đường (bối cảnh Trường Sơn, 1973), trò chuyện với đứa con nhỏ trong đêm cuối cùng ở bên con.
Mục tiêu đọc
Bài học này lấy thơ làm bằng chứng cho một nhận định lí luận.
Nguồn văn bản và cách đọc
Văn bản: bài thơ Viết cho con của Lệ Thu (Trần Lệ Thu), cuối bài ghi Hà Nội – Trường Sơn, 1973. Bài thơ thuộc quyền của tác giả, nên bài học này chỉ trích một số dòng và cụm từ ngắn làm bằng chứng phân tích; những chỗ còn lại được LUKATO kể lại bằng lời của mình.
Trước khi học tiếp: em hãy đọc trọn bài thơ trong sách, tài liệu ôn thi hoặc tuyển tập thơ do thầy cô giới thiệu, đọc chậm hai lần và đánh dấu bảy đoạn theo bảng dưới đây. Văn bản trọn vẹn của bài thơ có 42 dòng, chia thành bảy đoạn; mọi con số về số dòng, số tiếng trong bài học đều tính trên văn bản ấy. Nếu đề chỉ trích một phần bài thơ, em đếm lại trên đoạn được trích.
Đọc chậm: bảy đoạn thơ và việc mỗi đoạn làm
Bài thơ gồm bảy đoạn, ngăn cách bằng những khoảng trống giữa các nhóm dòng. Bảng dưới đây cho biết việc chính của từng đoạn.
Đoạn 1
Việc chính của đoạn: Đêm cuối bên con: mẹ thức, nghe nhịp thở, ngắm nụ cười trong mơ, viết thơ.
Dấu hiệu nhận ra: dòng mở đầu Đêm cuối cùng được ở bên con ; dòng ngắn nhịp thở bình yên
Đoạn 2
Việc chính của đoạn: Ngày mai lên đường; mẹ hình dung những gian lao và nhớ những nét rất riêng của con.
Dấu hiệu nhận ra: tin báo ngày mai mẹ đi; hình ảnh cái đầu bẹp cá trê
Đoạn 3
Việc chính của đoạn: Mẹ tự hỏi mai này con nghĩ gì; nói ra lí do ra đi.
Dấu hiệu nhận ra: ba câu hỏi cùng dùng con nghĩ gì ; câu không muốn lớn lên con phải làm nô lệ
Đoạn 4
Việc chính của đoạn: Mẹ biết con cần mẹ và sẽ thiệt thòi.
Dấu hiệu nhận ra: lời thừa nhận con sẽ thiếu vòng tay chăm sóc của mẹ
Đoạn 5
Việc chính của đoạn: Niềm tin: tâm hồn con sẽ sáng trong; lịch sử, Tổ quốc, vinh quang.
Dấu hiệu nhận ra: hình ảnh vầng trăng rằm; niềm tin con sẽ ngẩng cao đầu
Đoạn 6
Việc chính của đoạn: Lời gửi gắm: sống xứng đáng; con là ngọc, gương, lửa, hương.
Dấu hiệu nhận ra: sống làm người xứng đáng ; ba dòng liên tiếp cùng có chữ là
Đoạn 7
Việc chính của đoạn: Rạng sáng chia tay: dặn con ở lại; những lời cầu xin dành cho con và bạn nhỏ.
Dấu hiệu nhận ra: mở bằng gà gáy tan canh ; ba lời xin và ba tiếng ôi
GV
Cô Lukato
Hãy để ý một điều: đoạn 1, 2 và 7 đều mở ra từ một khoảnh khắc rất cụ thể (đêm cuối bên con, tin báo ngày mai lên đường, tiếng gà gáy lúc rạng sáng), còn đoạn 3, 4, 5, 6 mở bằng suy tưởng (con sẽ nghĩ gì, con sẽ thiệt thòi ra sao, tâm hồn con sẽ sáng trong, sống thế nào cho xứng đáng). Cảm xúc đi từ khoảnh khắc nhỏ bên con ra chuyện lớn (đất nước, lịch sử), rồi trở về khoảnh khắc chia tay. Đó là con đường đi của cảm xúc mà ta sẽ bám theo suốt bài.
Hình 1: đường đi của cảm xúc trong bài thơ
Hình 1. Cảm xúc đi từ khoảnh khắc nhỏ bên con tới mối quan tâm lớn, rồi khép lại bằng lời cầu xin bình yên cho con và các bạn nhỏ.
Điều cần nhớ khi đọc
Bài thơ không đổi đề tài giữa chừng . Nỗi thương con mở rộng dần thành nỗi đau lịch sử, rồi lại trở về với tuổi thơ. Vì vậy phần “yêu nước” của bài thơ không phải một mảng dán thêm vào tình mẫu tử.
Dấu hiệu nào cho thấy đoạn 3 chuyển từ nỗi nhớ riêng sang câu hỏi về đất nước?
Đúng. Ba lần hỏi “con nghĩ gì”, lần lượt về mẹ, về chặng đường đã qua, rồi về đất nước: phạm vi được nới ra từng bước ngay trong cấu trúc lặp.
Sai. Người nói vẫn xưng “mẹ” trong đoạn 3; chỉ ở dòng cuối bài mới có cụm “con tôi”.
Sai. Bài thơ tự do, không hề gieo vần lục bát.
Sai. Đứa con vẫn là người được hỏi và được nhắc tới trong mọi câu hỏi của đoạn.
3 Đọc đề: nhận định LUKATO và quy trình năm bước
Đề chuyên thường không hỏi “bài thơ hay ở đâu”, mà hỏi “nhận định này đúng ở chỗ nào của bài thơ”. Hai câu hỏi ấy khác nhau xa.
Nhận định dùng trong bài này
“Tiếng thơ trước hết phải cất lên từ một tấm lòng. Tình cảm trong thơ cần chân thành, tự nhiên; không gượng ép, không vay mượn, không pha vào những xúc động chẳng có thật.”
Đây là câu do LUKATO diễn đạt lại theo một quan niệm rất phổ biến trong lí luận văn học: thơ thật sự bắt đầu từ cảm xúc thật. Nếu đề bài cho nguyên văn lời của một nhà nghiên cứu, em vẫn dùng đúng quy trình dưới đây, chỉ cần thay từ khóa cho khớp.
Quy trình năm bước cho đề “giải thích + chứng minh”
Ví dụ 1 · Đi hết quy trình với nhận định trên
Bước 1 · Gạch từ khóa. Trong nhận định có: “tiếng thơ”, “tấm lòng”, “chân thành”, “tự nhiên”, “gượng ép”, “vay mượn”. Sáu cụm này sẽ là sáu chiếc đinh treo cả bài viết.
Đề chuyên chấm rất kĩ việc em có hiểu từng từ khóa hay chỉ hiểu đại ý.
Bước 2 · Giải thích thành mệnh đề. Tách thành: (a) thơ khởi từ một tấm lòng; (b) tình cảm ấy chân thành; (c) bộc lộ tự nhiên; (d) đối lập với gượng ép, vay mượn.
Nhờ tách như vậy, mỗi mệnh đề sau này sẽ nhận về ít nhất một bằng chứng trong thơ.
Bước 3 · Xác định phạm vi và chỗ cần bàn thêm. Câu hỏi: chân thành có nghĩa là kể đúng sự thật đời sống không? Có thể chân thành mà vẫn có nghệ thuật không? Trả lời ngay từ phần giải thích để không bị bắt bẻ.
Người chấm thích bài có ý thức về giới hạn của nhận định, không tán thành một chiều.
Bước 4 · Chọn bằng chứng theo mệnh đề. Mỗi mệnh đề chọn một nhóm chi tiết: tình huống, giọng điệu, chi tiết đời thường, mâu thuẫn, hình ảnh, nhịp điệu.
Chọn theo nhóm thì bài có khung; chọn từng câu thơ rời rạc thì bài dễ thành liệt kê.
Bước 5 · Viết vòng lặp. Ở từng ý: nêu mệnh đề lí luận, dẫn thơ, phân tích cơ chế nghệ thuật, quay về khẳng định mệnh đề.
Bước “quay về” là bước ít bạn làm nhất và cũng là bước ăn điểm nhất.
Bẫy thường gặp
Bạn A viết: “Nhận định của đề rất đúng. Bây giờ ta đi phân tích bài thơ.” rồi phân tích đoạn thơ theo trình tự dòng thơ. Đến kết bài mới viết: “Như vậy nhận định là đúng”. Lỗi: nhận định chỉ đứng ở hai đầu bài, ở giữa vắng mặt. Người chấm thấy một bài phân tích thơ thông thường với hai câu dán ở ngoài.
Bẫy thường gặp
Bạn B tưởng “giải thích nhận định” là chép lại nhận định bằng lời khác: “Tiếng thơ phải xuất phát từ tấm lòng nghĩa là tiếng thơ phải xuất phát từ trái tim”. Lỗi: đó chỉ là thay từ đồng nghĩa. Giải thích thật sự phải trả lời: “tấm lòng” là gì trong hoạt động sáng tác, và vì sao thiếu nó thì bài thơ hỏng.
Bài 1 Mức 1 · Nhận biết
Trong nhận định LUKATO ở trên, có bao nhiêu từ khóa được chỉ ra ở bước 1 của Ví dụ 1? (Viết một số.)
Gợi ý 1. Đếm các cụm được đặt trong dấu ngoặc kép ở bước 1.
Gợi ý 2. Kiểm tra lại: tiếng thơ, tấm lòng, chân thành, tự nhiên, gượng ép, vay mượn.
Chính xác! Sáu từ khóa: tiếng thơ, tấm lòng, chân thành, tự nhiên, gượng ép, vay mượn.
Em bỏ sót một cụm. Hãy đếm lại từng cụm trong dấu ngoặc kép.
Em mới đếm hai cặp; còn hai cụm nữa ở vế sau của nhận định.
Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Sáu từ khóa: “tiếng thơ”, “tấm lòng”, “chân thành”, “tự nhiên”, “gượng ép”, “vay mượn”. Lưu ý: hai từ cuối là mặt đối lập, giúp ta hiểu “chân thành, tự nhiên” bằng cách nhìn điều mà nó phủ định.
4 Giải phẫu nhận định: hiểu từng từ khóa cho đến đáy
Một nhận định đọc qua thấy dễ hiểu, nhưng chính những từ “dễ hiểu” lại là chỗ bài làm hay nông. Ta mổ xẻ từng từ.
Nhận định: Tiếng thơ trước hết phải cất lên từ một tấm lòng. Tình cảm trong thơ cần chân thành, tự nhiên; không gượng ép, không vay mượn, không pha vào những xúc động chẳng có thật.
Bốn mệnh đề ẩn trong một câu
1. Nguồn gốc
Nói gì: Thơ khởi từ một tấm lòng, tức là từ một rung động có thật.
Câu hỏi em phải trả lời khi chứng minh: Trong bài thơ, rung động ấy nảy ra từ tình huống nào?
2. Hóa thân
Nói gì: Tấm lòng nhập vào giọng điệu, hình ảnh, nhịp điệu, chứ không đứng ngoài bài thơ.
Câu hỏi em phải trả lời khi chứng minh: Cảm xúc hiện ra qua những phương tiện nghệ thuật nào?
3. Phẩm chất
Nói gì: Cảm xúc phải chân thành, bộc lộ tự nhiên.
Câu hỏi em phải trả lời khi chứng minh: Chi tiết nào khiến người đọc tin đây là cảm xúc thật, không dàn dựng?
4. Điều bị loại trừ
Nói gì: Không gượng ép, không vay mượn.
Câu hỏi em phải trả lời khi chứng minh: Bài thơ tránh những cách làm thơ “giả” ấy bằng cách nào?
Hai cặp từ dễ nhầm
Chân thành và tự nhiên
Chân thành nói về cái gốc: cảm xúc có thật ở trong lòng người viết.
Tự nhiên nói về cách bộc lộ: lời thơ đi theo nhịp của tâm trạng, không bị ép cho “ra vẻ thơ”.
Có thể chân thành mà vụng về; cũng có thể trau chuốt mà giả. Nhận định đòi cả hai.
Gượng ép và vay mượn
Gượng ép : cảm xúc chưa đủ đầy mà cố nói cho to, cho kêu, thường sinh ra khẩu hiệu.
Vay mượn : dùng lời, hình ảnh, cảm xúc của người khác hoặc của khuôn mẫu, không qua trải nghiệm của mình.
Hai lỗi khác nhau nhưng cùng một hậu quả: người đọc không tin.