Bỏ qua đến nội dung chính

Mùa xuân ơi hãy về: đọc thơ năm chữ qua lời gọi và điệp cấu trúc

Bài thơ năm chữ của Nguyễn Lãm Thắng: nhận diện thể thơ, phân tích điệp cấu trúc, từ ngữ và kết cấu vòng tròn; luyện viết đoạn cảm nhận có dẫn thơ, kèm bài…

Cập nhật: 2026-09-26

Môn: Ngữ văn · Tài liệu THCS

Ngữ văn 7 · Thơ năm chữ

Mùa xuân ơi hãy về: đọc thơ năm chữ qua lời gọi và điệp cấu trúc

Một bài thơ ngắn của Nguyễn Lãm Thắng, một lời gọi mùa xuân lặp lại đầu và cuối: em sẽ học cách đếm tiếng, ngắt nhịp, tìm vần, đọc điệp cấu trúc và viết đoạn văn cảm nhận có dẫn thơ.

70 phút Mức: cơ bản đến khá Đọc thơ, phân tích, viết cảm nhận

Em sẽ làm được: nhận diện thơ năm chữ bằng ba dấu hiệu, đọc điệp cấu trúc và từ ngữ giàu sức gợi, giải thích vì sao bài thơ khép lại bằng chính dòng thơ mở đầu, viết đoạn cảm nhận khoảng 150 chữ.

1 Bản đồ bài học và phép thử đầu vào

Trước hết ta làm quen với bài thơ và xem con đường sắp đi qua.

“Mùa xuân ơi hãy về” là bài thơ của Nguyễn Lãm Thắng, nhà thơ có nhiều sáng tác cho thiếu nhi. Bài thơ có bốn khổ, mỗi khổ bốn dòng, mỗi dòng năm tiếng. Giọng thơ vui, náo nức, như một em bé đang đứng ở cửa nhà, gọi mùa xuân bước vào.

Trước khi học

Cách dùng bài này. Bài thơ “Mùa xuân ơi hãy về” của Nguyễn Lãm Thắng còn trong thời hạn bản quyền, nên bài học chỉ trích vài dòng thơ ngắn làm bằng chứng (lời gọi mở đầu và kết thúc, cùng ba dòng tiêu biểu); những dòng khác được kể lại bằng lời. Trước khi làm bài, em tìm đọc toàn văn bài thơ (trong đề ôn tập hoặc tài liệu thầy cô phát), đọc thành tiếng cả mười sáu dòng và lắng nghe lời gọi ở dòng đầu trở lại nguyên vẹn ở dòng cuối; sau đó để bài thơ mở sẵn bên cạnh. Những bài tập cần đếm, dò vần trên nhiều dòng liền nhau sẽ dùng dòng thơ luyện tập hoặc bài thơ do Lukato tự viết. Mọi con số trong bài (số dòng, số tiếng, số lần lặp), em đều có thể tự đếm lại trên văn bản bài thơ.

Chặng · Câu hỏi lớn · Em sẽ làm gì

Nhận diện (mục 2) · Vì sao đây là thơ năm chữ? · Đếm tiếng, ngắt nhịp, tìm vần

Điệp cấu trúc (mục 3) · Chữ “Cho” lặp lại để làm gì? · Đếm, phân tích tác dụng

Từ ngữ (mục 4) · Từ nào làm mùa xuân “sống” dậy? · Đọc từ láy, động từ mạnh, nhân hóa

Kết cấu và thông điệp (mục 5) · Vì sao đầu và cuối giống nhau? · Tìm mạch hình ảnh và thông điệp

Viết (mục 6, 7, 8) · Làm sao viết cảm nhận có dẫn thơ? · Chấm đoạn mẫu; viết và chuyển giao

GV

Cô Lukato

Thơ không chỉ để hiểu, mà còn để nghe. Khi đọc, em hãy vỗ nhẹ tay theo nhịp: thơ năm chữ có nhịp rất dễ bắt. Tai nghe được điều gì, mắt mới tìm ra bằng chứng điều ấy.

Ba câu hỏi đầu vào (chưa cần đúng hết):

Bài thơ “Mùa xuân ơi hãy về” thuộc thể thơ nào?

Sai: thơ bốn chữ mỗi dòng bốn tiếng; bài này mỗi dòng có năm tiếng.

Sai: lục bát phải xen dòng sáu tiếng với dòng tám tiếng; đếm mười sáu dòng của bài này, dòng nào cũng chỉ năm tiếng.

Sai: thơ tự do để dòng dài ngắn tuỳ ý, còn ở đây ngay cả sáu dòng mở đầu bằng chữ “Cho” cũng giữ đúng năm tiếng.

Đúng: 16 dòng, dòng nào cũng năm tiếng, nên đây là thơ năm chữ.

Về hình thức bài thơ “Mùa xuân ơi hãy về”, hãy xét các ý sau.

a) Bài thơ gồm 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng, tất cả 16 dòng.

Đúng: 4 khổ nhân 4 dòng bằng 16 dòng.

b) Trong thơ, “tiếng” và “từ” luôn là một: mỗi tiếng là một từ.

Sai: “tiếng” là âm tiết viết rời; một từ có thể gồm một hoặc nhiều tiếng, ví dụ “êm đềm” là một từ hai tiếng.

c) Mỗi dòng trong bài đều có đúng năm tiếng.

Đúng: đếm lần lượt cả 16 dòng, dòng nào cũng năm tiếng.

d) Bài thơ kể lại các sự kiện của một ngày hội xuân ở làng quê theo trình tự thời gian.

Sai: bài thơ là lời gọi và những điều ước dành cho mùa xuân, không kể chuyện theo trình tự.

Bài thơ có khổ; mỗi khổ có dòng; mỗi dòng có tiếng.

2 Nhận diện thơ năm chữ: đếm tiếng, ngắt nhịp, tìm vần

Ba dấu hiệu giúp em nhận ra thể thơ mà không cần ai mách: số tiếng, nhịp, vần.

Ba dấu hiệu của thơ năm chữ

1. Số tiếng. Mỗi dòng có đúng năm tiếng. Ta đếm tiếng bằng cách đọc chậm và gạch một nét cho mỗi âm tiết. Ví dụ dòng “Mang thêm nhiều nắng ấm” gồm: mang, thêm, nhiều, nắng, ấm: năm tiếng.

2. Nhịp. Thơ năm chữ thường ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2. Dòng “Mang thêm / nhiều nắng ấm” ngắt 2/3: hai tiếng rồi ba tiếng. Nhịp nhanh, gọn nên hợp với giọng vui, náo nức.

3. Vần. Tiếng cuối các dòng thường hô ứng với nhau. Đó là vần chân (vần ở cuối dòng). Nếu dòng 1 vần với dòng 3, dòng 2 vần với dòng 4 thì gọi là vần cách .

GV

Cô Lukato

“Tiếng” là đơn vị em nghe được khi đọc: mỗi lần mở miệng phát ra một âm tiết là một tiếng. Còn “từ” là đơn vị có nghĩa, có thể một tiếng hoặc nhiều tiếng. Muốn nhận diện thể thơ thì đếm tiếng , không đếm từ.

Ví dụ mẫu 1 · Nhận diện thể thơ từ một khổ thơ

Đề. Cho khổ thơ đầu của bài (bốn dòng). Hãy chứng minh đó là thơ năm chữ.

Vì sao làm bước này: Ta cần bằng chứng có thể kiểm tra, không chỉ nói “nghe có vẻ thế”.

Bước 1: đếm tiếng. Dòng 1 “Mùa xuân ơi hãy về” gồm: mùa, xuân, ơi, hãy, về, năm tiếng. Dòng 2, dòng 3 và dòng 4 cũng đều đúng năm tiếng.

Vì sao làm bước này: Đếm ở cả bốn dòng để chắc rằng không phải chỉ một dòng ngẫu nhiên đủ năm tiếng.

Bước 2: ngắt nhịp. Đọc thử dòng 2: “Mang thêm / nhiều nắng ấm”, ngắt 2/3. Dòng 4 cũng ngắt 2/3 sau cụm động từ hai tiếng “nở bừng”. Các dòng có cùng nhịp cho cảm giác đều đặn, nhẹ nhàng.

Vì sao làm bước này: Nhịp là dấu hiệu nghe được; nêu ít nhất hai ví dụ để thấy nhịp lặp lại.

Bước 3: tìm vần. Tiếng cuối dòng 1 là “về” và dòng 3 là “quê”: cùng vần “ê”. Tiếng cuối dòng 2 là “ấm” và dòng 4 là “thắm”: hai tiếng có vần gần nhau. Vậy khổ thơ gieo vần chân theo lối vần cách (dòng 1 với dòng 3, dòng 2 với dòng 4).

Vì sao làm bước này: Vần nối các dòng thành khổ thơ; nhờ vần, bài thơ dễ nhớ và dễ hát.

Kết luận. Mỗi dòng đủ năm tiếng, nhịp thường 2/3, có vần chân: đây là thơ năm chữ.

Vì sao làm bước này: Kết luận phải nhắc lại cả ba dấu hiệu.

Vần chặt và vần gần. Trong bài có những cặp vần rất chặt: “về” và “quê” (vần “ê”), “cánh” và “lạnh” (dòng 13 và dòng 15, vần “anh”). Cũng có những cặp vần gần như “ấm” và “thắm”, “trời” và “trôi”: chưa hoàn toàn trùng vần nhưng nghe vẫn hòa hợp. Thơ viết cho thiếu nhi thường ưu tiên sự dễ đọc, dễ thuộc hơn là vần thật chặt.

Bài 1 Mức 1 · Nhận biết

Đếm số tiếng của dòng thơ năm chữ do Lukato viết để luyện tập: “Lấp lánh giọt sương mai”. (Viết một số.)

Gợi ý 1. Đọc chậm và đếm từng âm tiết: “lấp”, “lánh”, …

Gợi ý 2. Nhớ: đếm tiếng, không đếm từ. “Lấp lánh” là một từ nhưng có hai tiếng (giống “ríu rít” trong bài của Nguyễn Lãm Thắng).

Chính xác! Dòng thơ có năm tiếng, đúng đặc điểm thơ năm chữ.

Ba là số từ, không phải số tiếng: em đã đếm “lấp lánh” là một. Hãy đếm từng âm tiết.

Em đếm thiếu một tiếng. Hãy đọc chậm: lấp, lánh, giọt, sương, mai.

Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.

Lời giải

Các tiếng: lấp, lánh, giọt, sương, mai. Tổng là 5 tiếng. Nếu đếm từ, ta có “lấp lánh”, “giọt”, “sương mai”: 3 từ. Nhưng thể thơ căn cứ vào tiếng . Em hãy làm y như vậy với dòng có từ “ríu rít” ở khổ cuối bài thơ: cũng năm tiếng.

Bài 2 Mức 2 · Thông hiểu

Ví dụ mẫu 1 đã xét vần ở khổ đầu. Giờ em mở bài thơ, xét khổ 2 (dòng 5 đến dòng 8). Tiếng cuối dòng 5 là “mật”. Tiếng cuối của dòng nào trong khổ này vần với “mật”? (Viết số thứ tự của dòng trong cả bài, từ 1 đến 16.)

Gợi ý 1. Nếu khổ thơ gieo vần cách thì dòng thứ nhất của khổ vần với dòng thứ ba của khổ, dòng thứ hai vần với dòng thứ tư.

Gợi ý 2. Chép tiếng cuối của bốn dòng trong khổ 2 ra vở; tiếng cần tìm cũng tận cùng bằng âm “t” như “mật”.

Chính xác! Dòng 7 kết thúc bằng “vắt”: “mật” và “vắt” là vần gần, cùng âm cuối “t”.

Dòng 6 kết thúc bằng “trời”; tiếng này vần với “trôi” ở dòng 8, không vần với “mật”.

Dòng 3 thuộc khổ đầu. Câu hỏi hỏi dòng trong khổ 2 (dòng 5 đến dòng 8), đánh số theo cả bài.

Dòng 8 kết thúc bằng “trôi”, vần với “trời” ở dòng 6. Hãy xem lại cặp dòng thứ nhất và thứ ba của khổ.

Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.

Lời giải

Khổ 2 gồm dòng 5, 6, 7, 8. Dòng 5 (dòng thứ nhất của khổ) kết thúc bằng “mật”, dòng 7 (dòng thứ ba của khổ) kết thúc bằng “vắt”. Vần “ât” và “ăt” cùng âm cuối “t”, âm chính “â” và “ă” gần nhau: đó là vần gần , giống cặp “ấm – thắm” ở khổ đầu. Cặp còn lại là “trời” (dòng 6) và “trôi” (dòng 8). Đáp án: dòng 7 .

Dòng thơ luyện tập do Lukato viết “Rực rỡ cánh mai vàng” (cùng kiểu với dòng mở bằng cụm “nở bừng” ở khổ 1) ngắt nhịp thuận tai nhất là

Sai: “rực rỡ” là một từ láy hai tiếng nên không thể tách ra.

Đúng: “Rực rỡ” là từ hai tiếng, “cánh mai vàng” là cụm ba tiếng: nhịp 2/3, giống cách ngắt “nở bừng / …” ở khổ 1.

Sai: ngắt sau “cánh” tách “cánh” khỏi “mai vàng” là chia cắt cụm từ.

Sai: tách riêng “vàng” làm gãy câu và không thuận tai.

Sắp xếp các bước để nhận diện thể thơ của một đoạn thơ.

Các bước (bấm để chọn)

Chuỗi của em

Bẫy thường gặp

Đếm từ thay vì đếm tiếng. Ở khổ 2, dòng tả con thuyền mở đầu bằng từ láy “êm đềm”: dòng ấy có năm tiếng nhưng số từ ít hơn năm, vì “êm đềm” là một từ hai tiếng. Nếu đếm từ, em sẽ thấy dòng này “thiếu” một chữ so với năm và nghĩ nhầm. Thể thơ luôn tính theo tiếng.

Bẫy thường gặp

Nhầm vần chân với vần lưng. Vần chân là vần ở tiếng cuối dòng (như “về – quê”). Vần lưng là vần nằm giữa dòng. Trong bài này em chỉ cần chú ý vần chân, vì đó là nhịp hô ứng chính giữa các dòng.

Ghi nhớ

Điều cần nhớ ở mục 2: thơ năm chữ có ba dấu hiệu: mỗi dòng năm tiếng; nhịp thường 2/3 hoặc 3/2; có vần chân (thường vần cách). Đếm tiếng , không đếm từ.

3 Điệp cấu trúc “Cho …”: lời ước nối tiếp lời ước

Nếu chỉ được chọn một nét nghệ thuật làm nên giọng điệu của bài, đó là chữ “Cho” lặp lại đầu dòng.

Điệp cấu trúc là cách lặp lại một kiểu câu, một khuôn câu nhiều lần. Trong bài, khuôn ấy là: “Cho” + điều mong ước . Đếm kĩ, ta thấy chữ “Cho” mở đầu sáu dòng trong tổng số mười sáu dòng, và chúng phân bố không đều giữa các khổ.

Hình 1. Chữ “Cho” mở đầu 1, 3, 1, 1 dòng ở bốn khổ thơ (số liệu đếm từ bài thơ).

Điều được “cho” · Thuộc nhóm · Gợi cảm giác

khắp nơi trong làng quê (dòng 3) · Không gian · Mùa xuân lan rộng khắp nơi

con ong làm mật (dòng 5) · Loài vật · Cần mẫn, ngọt ngào

con én tung trời (dòng 6) · Loài vật · Tự do, rộn ràng

dòng sông trong trẻo (dòng 7) · Cảnh vật · Trong trẻo, yên bình

em thêm một tuổi mới (dòng 9) · Con người · Niềm vui lớn lên

chim non vỗ cánh (dòng 13) · Loài vật · Sức sống, niềm vui bay lượn

GV

Cô Lukato

Em thấy không: sau mỗi chữ “Cho” là một bức tranh nhỏ. Sáu bức tranh nối tiếp nhau như sáu lời xin. Người đọc nghe thấy sự háo hức của một em bé cứ nghĩ ra thêm một điều ước, rồi thêm một điều ước nữa.

Ví dụ mẫu 2 · Phân tích tác dụng của điệp cấu trúc

Đề. Nêu tác dụng của điệp cấu trúc “Cho …” trong bài thơ.

Vì sao làm bước này: Câu hỏi tác dụng cần được trả lời từ nhiều góc: nhịp, cảm xúc, nội dung.

Nhận diện. Sáu dòng mở đầu bằng “Cho”: dòng 3, 5, 6, 7, 9 và 13. Ba dòng liên tiếp 5, 6, 7 đều nằm ở khổ thơ thứ hai.

Vì sao làm bước này: Nêu vị trí cụ thể để chứng tỏ mình đã đếm thật, không nói suông.

Về nhịp điệu. Chữ “Cho” ngắn, cùng khuôn nên câu thơ trở thành một dãy nhịp đều, dồn dập, nghe như điệp khúc của bài hát.

Vì sao làm bước này: Điệp cấu trúc trước hết tạo âm hưởng.

Về cảm xúc và nội dung. Mỗi lần “Cho” là một lời ước mới: từ làng quê, ong, én, sông, đến em nhỏ và chim non. Lời ước trải rộng từ thiên nhiên đến con người, thể hiện lòng yêu mùa xuân và niềm háo hức chào đón.

Vì sao làm bước này: Sau âm hưởng là ý nghĩa: điều lặp lại làm nổi bật điều người viết mong muốn.

Kết luận. Nhờ điệp cấu trúc, bài thơ vừa có nhịp vui vừa cho thấy lời gọi mùa xuân đầy tha thiết.

Vì sao làm bước này: Kết luận ngắn, nhắc lại hai tác dụng chính.

Bài 3 Mức 1 · Nhận biết

Trong sáu dòng mở đầu bằng “Cho”, có bao nhiêu dòng mà điều được “cho” là một loài vật (con vật)? (Viết một số.)

Gợi ý 1. Với mỗi dòng “Cho”, gạch chân danh từ đứng ngay sau chữ “Cho” (bảng phía trên liệt kê đủ sáu dòng).

Gợi ý 2. Loài vật là con vật biết bay, bò, bơi…; không tính sông nước, làng quê hay con người. Đừng chỉ dò riêng khổ 2.

Chính xác! Ba loài vật: con ong, con én và chim non.

Em mới đếm con ong và con én ở khổ 2, còn sót chim non ở dòng “Cho” của khổ cuối.

Có lẽ em đã tính cả dòng sông (dòng 7). Sông là cảnh vật, không phải loài vật.

Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.

Lời giải

Sáu dòng “Cho” lần lượt nói về: nẻo làng quê (dòng 3, không gian), con ong (dòng 5), con én (dòng 6), dòng sông (dòng 7, cảnh vật), em (dòng 9, con người), chim non (dòng 13). Loài vật gồm con ong, con én, chim non: 3 dòng. Lời ước vì thế không dừng ở con người mà trải ra muôn loài.

Bài 4 Mức 2 · Thông hiểu

Ở khổ 3, chữ “Cho” chỉ xuất hiện một lần (dòng 9, lời ước dành cho em). Lời ước dành cho em ấy kéo dài qua bao nhiêu dòng thơ, tính cả dòng 9? (Viết một số.)

Luyện thi vào 10 và thi chuyên cùng LUKATO AI — đề thi thử, gia sư AI, chấm bài tự động.
Bắt đầu miễn phí

Xem thêm