Với con: đọc thơ tình phụ tử qua chuỗi hành động của người bố
Bài thơ của Vũ Quần Phương: đọc hình thức bằng số liệu, lần theo chuỗi hành động bồng, bế, nhấc, hiểu người cha; luyện viết bài phân tích 400 chữ và nghị…
Ngữ văn 9 · Ôn luyện đọc hiểu thơ và viết bài nghị luận
Với con: đọc thơ tình phụ tử qua chuỗi hành động của người bố
Bài thơ của Vũ Quần Phương kể một điều rất giản dị: người bố bế con đi qua từng khoảng không gian của cuộc sống. Em sẽ học cách đọc bằng chứng, hiểu người cha và viết một bài phân tích thơ khoảng 400 chữ cùng một đoạn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ.
80 phút Mức: khá đến giỏi Đọc thơ, viết phân tích, nghị luận Ngữ liệu ngoài SGK Ngữ văn 9, dùng để ôn luyện lớp 9
Em sẽ làm được: nhận diện thể thơ bằng số liệu đếm được, lần theo mạch hành động và không gian, giải thích các so sánh và lời dặn của người cha, viết bài phân tích có luận đề và đoạn nghị luận từ một câu thơ.
1 Bản đồ bài học và phép thử đầu vào
Trước hết ta xem bài thơ đi qua những chặng nào và em đang đứng ở đâu.
“Với con” là bài thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương. Đó là lời của một người bố nói với đứa con nhỏ, không cầu kì mà rất thấm. Điều làm bài thơ đáng đọc kĩ là mạch phát triển của nó: bố bồng con trong vòng tay, rồi bế con ra mái hiên, ra phố phường, ra cuộc đời, và cuối cùng nhấc con lên vai để con nhìn xa hơn.
Ghi chú
Cách dùng bài này. Vì “Với con” vẫn đang được bảo hộ bản quyền, bài học chỉ trích nguyên văn sáu dòng thơ (dòng 6, 7, 8, 11, 15 và 17, đánh số theo thứ tự dòng của cả bài) cùng một số cụm ngắn như “muối mặn, gừng cay”, “Tươi như quả chín”, “Bố nhấc con lên”; những chỗ khác được tóm ý bằng lời của Lukato. Bài thơ có trong sách bài tập Ngữ văn 8, tập một (bộ Chân trời sáng tạo) và thường được chọn làm ngữ liệu đọc hiểu; em hãy tìm đọc toàn văn (trong sách ấy hoặc trong đề ôn tập thầy cô phát), đọc to trọn bài một lượt, để ý những động từ người bố dùng với con (bồng, bế, nhấc), rồi mới làm tiếp. Ở lớp 9, bài thơ là ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, rất hợp để ôn kĩ năng đọc hiểu thơ và viết bài nghị luận. Mọi con số trong bài (số khổ, số dòng, số tiếng, số lần lặp, vần), em đều có thể tự đếm lại trên văn bản.
Chặng · Câu hỏi lớn · Em sẽ làm gì
Hình thức (mục 2) · Bài thơ thuộc thể nào, nhịp và vần ra sao? · Đếm tiếng, ngắt nhịp, tìm vần
Mạch thơ (mục 3) · Người bố làm gì và đưa con đến đâu? · Lập chuỗi động từ và không gian
Hình ảnh (mục 4) · Những so sánh và hình ảnh nói lên điều gì? · Gọi tên biện pháp, nêu tác dụng
Người cha (mục 5) · Người bố là người thế nào, muốn nhắn gì? · Dựng chân dung từ bằng chứng
Viết (mục 6, 7) · Làm sao viết 400 chữ và 200 chữ? · Đọc bài mẫu, chấm, tự viết
Chuyển giao (mục 8) · Kĩ năng này dùng cho bài thơ mới ra sao? · Phân tích một bài thơ do Lukato viết
GV
Cô Lukato
Đọc thơ là theo dõi sự thay đổi . Trong bài này em hãy luôn hỏi: ở khổ sau, điều gì đã khác so với khổ trước? Người bố làm gì khác? Con được đưa đến đâu?
Ba câu hỏi đầu vào (chưa cần đúng hết):
Muốn kết luận về thể thơ của một bài, việc đầu tiên nên làm là
Sai: nhìn dòng ngắn dài rồi đoán dễ nhầm; phải có số liệu.
Đúng: đếm tiếng ở nhiều dòng là bằng chứng kiểm tra được.
Sai: tên tác giả không cho biết thể thơ.
Sai: số khổ không quyết định thể thơ.
Về mạch phát triển của bài thơ “Với con”, hãy xét các ý sau.
a) Khổ đầu bài thơ là hình ảnh người bố bồng con, ôm con trong vòng tay.
Đúng: khổ đầu là vòng tay của bố, không gian gần nhất với đứa con.
b) Các khổ 2, 3 và 4 đều bắt đầu bằng động từ “nhấc”.
Sai: khổ 2, 3, 4 mở đầu bằng “Bố bế con ra…”; “nhấc” chỉ xuất hiện ở khổ cuối.
c) Không gian trong bài mở rộng dần: từ vòng tay đến mái hiên, phố phường rồi cuộc đời.
Đúng: đó là mạch của bài thơ, sẽ được vẽ thành sơ đồ ở mục 3.
d) Bài thơ kể chuyện theo trình tự thời gian một ngày dài của hai bố con.
Sai: bài thơ là mạch không gian và tình cảm, không phải kể sự kiện theo giờ giấc.
Bài thơ có khổ; từ khổ 2 đến khổ 5, mỗi khổ có dòng; các dòng ở bốn khổ này đều có tiếng.
2 Thể thơ, nhịp và vần: đọc hình thức bằng số liệu
Hình thức không phải để học thuộc mà để chứng minh: mỗi kết luận phải có số liệu đi kèm.
Ba việc khi đọc hình thức
1. Đếm tiếng ở nhiều dòng. Từ khổ 2 đến khổ 5, mỗi dòng đều có đúng bảy tiếng; riêng khổ đầu có năm dòng dài ngắn khác nhau. Ví dụ dòng “Bố bế con ra ngoài mái hiên” gồm: bố, bế, con, ra, ngoài, mái, hiên: bảy tiếng.
2. Ngắt nhịp. Nhiều dòng ngắt nhịp 4/3 rất tự nhiên nhờ dấu phẩy: “Sông xa, trời rộng, / mắt con nhìn” (4 tiếng rồi 3 tiếng). Nhịp 4/3 nghe chậm rãi, như tiếng người bố nói khẽ.
3. Tìm vần. Ở khổ đầu, ba tiếng cuối dòng “tay”, “nay”, “may” (dòng 2, 3 và 5) cùng vần “ay”. Ở khổ 4, “người” và “cười” cùng vần “ươi”. Vần không theo một mẫu cố định ở mọi khổ nhưng luôn có những chỗ hô ứng làm câu thơ mềm và ngân.
GV
Cô Lukato
Bài thơ viết theo thể thơ tự do : dòng thơ không bị gò vào một khuôn cố định, thấy rõ nhất ở khổ đầu có năm dòng dài ngắn khác nhau (lần lượt 2, 5, 6, 7, 7 tiếng). Từ khổ 2 đến khổ 5, nhà thơ lại viết rất đều (mỗi khổ bốn dòng, mỗi dòng bảy tiếng), nên giọng thơ vừa tự nhiên như lời nói vừa có nhịp. Khi làm bài, em kết luận “thơ tự do” và dẫn ngay số liệu ấy làm bằng chứng, không kết luận chỉ vì thấy dòng “ngắn”.
Ví dụ mẫu 1 · Chứng minh nhận xét về hình thức một khổ thơ
Đề. Nhận xét về hình thức khổ thơ thứ hai (bốn dòng, mở đầu bằng “Bố bế con ra ngoài mái hiên”).
Vì sao làm bước này: Câu hỏi hình thức cần trả lời bằng số liệu, không bằng cảm giác.
Bước 1. Đếm tiếng: dòng 1 có 7 tiếng; dòng 2 “Sông xa, trời rộng, mắt con nhìn” cũng 7; dòng 3 và dòng 4 đều 7. Tất cả 4 dòng đều bảy tiếng.
Vì sao làm bước này: Đếm cả bốn dòng để chắc rằng không phải một dòng ngẫu nhiên.
Bước 2. Ngắt nhịp dòng 2: “Sông xa, trời rộng, / mắt con nhìn”: nhịp 4/3.
Vì sao làm bước này: Dấu phẩy giúp em nghe được nhịp.
Bước 3. Nêu tác dụng: nhịp đều, chậm giúp giọng thơ nhẹ nhàng như lời bố nói bên tai con.
Vì sao làm bước này: Hình thức phải gắn với tác dụng; không dừng ở việc gọi tên.
Kết luận. Khổ hai gồm bốn dòng bảy tiếng, nhịp 4/3, tạo giọng thủ thỉ, hợp với cảnh bố bế con nhìn cảnh vật.
Vì sao làm bước này: Kết luận nhắc lại cả số liệu và tác dụng.
Bài 1 Mức 1 · Nhận biết
Đếm số tiếng của dòng thơ “Cánh buồm trôi đấy, mây bay đấy!”. (Viết một số.)
Gợi ý 1. Đọc chậm, đếm từng âm tiết: “cánh”, “buồm”, …
Gợi ý 2. Nhớ đếm cả những tiếng lặp lại như “đấy” xuất hiện hai lần.
Chính xác! Dòng thơ có bảy tiếng.
Em đã bỏ sót một tiếng: chữ “đấy” xuất hiện hai lần, phải đếm cả hai.
Còn thiếu hai tiếng. Hãy đếm lại từng âm tiết.
Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Các tiếng: cánh, buồm, trôi, đấy, mây, bay, đấy. Tổng là 7 tiếng. Tiếng “đấy” lặp hai lần nhưng vẫn phải đếm hai lần.
Bài 2 Mức 2 · Thông hiểu
Ở khổ đầu, các tiếng cuối dòng “tay”, “nay”, “may” cùng vần gì? (Viết phần vần, không dấu.)
Gợi ý 1. Bỏ phụ âm đầu “t”, “n”, “m”, phần còn lại là gì?
Gợi ý 2. Phần vần gồm âm chính và âm cuối (nếu có). Ví dụ: phần vần của “sông” là “ông”, của “hoa” là “oa”.
Chính xác! Ba tiếng cùng vần “ay”.
Còn thiếu âm cuối: phần vần gồm cả “a” và “y”.
Nghe lại: “tay” đọc là “tay”, không phải “tai”; âm cuối là “y”.
Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Bỏ phụ âm đầu: t-ay, n-ay, m-ay. Ba tiếng cùng vần ay . Đây là vần chân (vần ở cuối dòng), làm khổ đầu mềm và ngân.
Dòng “Sông xa, trời rộng, mắt con nhìn” ngắt nhịp thuận tai nhất là
Sai: ngắt 3/4 sẽ cắt ngang cụm “sông xa, trời rộng”.
Đúng: “Sông xa, trời rộng” (4 tiếng) rồi “mắt con nhìn” (3 tiếng); dấu phẩy là dấu hiệu nhịp.
Sai: ngắt 2/5 làm gãy hai cụm đối xứng “sông xa” và “trời rộng”.
Sai: ngắt 5/2 tách cụm chủ vị “mắt con nhìn”.
Sắp xếp các bước để nhận xét hình thức một khổ thơ.
Các bước (bấm để chọn)
Chuỗi của em
Bẫy thường gặp
Kết luận “thơ năm chữ” chỉ vì thấy dòng ngắn. Ở khổ đầu có ba dòng ngắn hơn bảy tiếng (dòng ngắn nhất chỉ hai tiếng), còn tất cả các dòng từ khổ 2 đến khổ 5 đều bảy tiếng. Một vài dòng ngắn không làm nên thể thơ năm chữ. Muốn kết luận, hãy đếm tiếng ở nhiều dòng: ở đây mười sáu dòng của khổ 2 đến khổ 5 đều bảy tiếng.
Bẫy thường gặp
Đếm từ thay vì đếm tiếng. Dòng “Xe chạy người đi như nước tuôn” có bảy tiếng. Nếu em đếm theo từ (như “nước tuôn”) sẽ ra một con số khác. Số tiếng luôn là số âm tiết đọc lên được.
Ghi nhớ
Điều cần nhớ ở mục 2: mọi nhận xét về hình thức phải có số liệu (đếm tiếng ở nhiều dòng), nêu nhịp và vần rồi nói tác dụng. Đừng kết luận vội từ vài dòng. “Với con” viết theo thể thơ tự do: khổ đầu dài ngắn khác nhau, bốn khổ sau đều bảy tiếng mỗi dòng.
3 Mạch hành động và không gian: từ vòng tay đến cuộc đời
Bài thơ không kể nhiều, chỉ đổi chỗ đứng của đứa con: mỗi khổ, con được đưa ra xa hơn một chút.
Nếu gạch chân động từ chính của người bố, ta có một chuỗi: bồng (khổ 1), bế (khổ 2, 3, 4), nhấc (khổ 5). Cùng lúc, không gian con được đưa đến mở rộng dần. Bảng dưới đây ghi lại chuỗi ấy, mỗi ô chỉ dùng cụm từ ngắn của bài thơ.
Khổ · Bố làm gì · Con được đến đâu, thấy gì
1 · bồng con · vòng tay bố: an toàn, gần gũi
2 · bế con ra … mái hiên · mái hiên, vườn, sông, trời: thiên nhiên quê nhà
3 · bế con ra … phố phường · phố phường: nhịp sống đông đúc, vị đời
4 · bế con ra … cuộc đời · cuộc đời: gương mặt con người, âu lo và nụ cười
5 · nhấc con lên · trên vai bố, nhìn xa: tương lai, người bạn đồng hành
Hình 1. Chuỗi bồng, bế, nhấc và các không gian mở rộng dần trong bài thơ (sơ đồ do Lukato vẽ).
GV
Cô Lukato
Em có để ý không: người bố không giảng điều gì to tát. Ông chỉ chỉ tay: “Cánh buồm trôi đấy, mây bay đấy!”, rồi cho con nhìn. Đó là cách dạy con bằng trải nghiệm, nhẹ mà sâu.
Ví dụ mẫu 2 · Phân tích tác dụng của điệp cấu trúc “Bố bế con ra…”
Đề. Nêu tác dụng của việc lặp lại khuôn “Bố bế con ra…” ở đầu các khổ thơ.
Vì sao làm bước này: Câu hỏi tác dụng cần trả lời từ nhiều góc: nhịp, nội dung, tình cảm.
Nhận diện. Khuôn “Bố bế con ra…” mở đầu ba khổ liên tiếp: khổ 2, khổ 3, khổ 4.
Vì sao làm bước này: Nêu số lần và vị trí để chứng tỏ mình đã đếm thật.
Về nhịp điệu. Lặp lại một khuôn câu làm nhịp thơ đều, nối các khổ như những bước chân của bố.
Vì sao làm bước này: Điệp cấu trúc trước hết tạo âm hưởng.
Về nội dung. Chỉ phần sau “ra…” thay đổi: mái hiên, phố phường, cuộc đời. Phần lặp là hành động đưa con đi; phần đổi là thế giới mở rộng.
Vì sao làm bước này: Cái lặp làm nổi bật cái đổi: đó là mẹo phân tích điệp cấu trúc.
Về tình cảm. Cùng một hành động “bế” lặp lại cho thấy sự kiên nhẫn, chăm chút của người cha.
Vì sao làm bước này: Từ hành động suy ra tính cách và tình cảm.
Kết luận. Điệp cấu trúc vừa tạo nhịp điệu đều đặn vừa nhấn mạnh hành trình đưa con vào đời của người bố.
Vì sao làm bước này: Kết luận ngắn, nhắc lại cả hình thức lẫn nội dung.
Bài 3 Mức 1 · Nhận biết
Mở bài thơ, chép ba dòng mở đầu khổ 2, khổ 3, khổ 4 thẳng hàng nhau. Phần giống hệt nhau ở đầu cả ba dòng gồm bao nhiêu tiếng? (Viết một số.)
Gợi ý 1. Gạch chân lần lượt tiếng thứ nhất, thứ hai, thứ ba… của ba dòng; dừng lại ở tiếng đầu tiên mà ba dòng không còn giống nhau.
Gợi ý 2. Hai dòng mở đầu khổ 3 và khổ 4 có chữ “với” đứng trước nơi chốn, còn dòng mở đầu khổ 2 thì không.
Chính xác! Phần lặp chung là bốn tiếng đầu dòng: Bố, bế, con, ra.
Em đã tính cả chữ “với”. Chữ này chỉ có ở dòng đầu khổ 3 và khổ 4; dòng đầu khổ 2 đi tiếp bằng “ngoài”, nên “với” không thuộc phần lặp chung.
Em bỏ quên chữ “Bố” đứng đầu dòng; phần lặp tính từ tiếng đầu tiên.
Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Đặt ba dòng thẳng hàng: bốn tiếng đầu “Bố”, “bế”, “con”, “ra” giống hệt nhau ở cả ba dòng. Đến tiếng thứ năm, dòng khổ 2 là “ngoài”, còn hai dòng khổ 3 và khổ 4 là “với”, nên phần lặp chung dừng lại ở đó: 4 tiếng. Phần đổi là nơi chốn: mái hiên, phố phường, cuộc đời.
Bài 4 Mức 2 · Thông hiểu
Động từ chỉ hành động của bố ở khổ cuối, khác với “bế” ở ba khổ trước, là gì? (Viết một từ.)
Gợi ý 1. Ở khổ cuối, bố đưa con lên cao hơn tầm tay.
Gợi ý 2. Động từ ấy xuất hiện hai lần ngay trong dòng đầu tiên của khổ cuối.
Chính xác! “Nhấc” cho thấy bố nâng con lên để nhìn xa.
“Bế” là động từ của ba khổ trước, không phải của khổ cuối.
“Bồng” là động từ của khổ đầu.
Lời giải mở sau khi em làm đúng, thử 2 lần, hoặc xem hết gợi ý.
Lời giải
Động từ là nhấc (“Bố nhấc con lên…”). Nếu “bế” là ôm con trong lòng thì “nhấc” là nâng con lên cao, đặt con lên vai để con nhìn xa hơn. Sự đổi động từ cho thấy vai trò của bố đổi từ che chở sang nâng đỡ.
Sự thay đổi từ “bế” sang “nhấc” ở khổ cuối cho thấy điều gì?